SERUM HAIM - Phần 6.0: Tổng quan HAIM tại spa
Phần 6 trả lời câu hỏi của chủ spa: dùng Serum HAIM trước, trong hay sau từng kỹ thuật và máy, và ghép HAIM vào liệu trình thế nào. Mỗi kỹ thuật có một bài riêng, từ bài 6.1 đến bài 6.23. Bài 6.0 gom phần dùng chung cho mọi kỹ thuật, kèm lý do.
Dược sĩ Thu Huyền - Chủ thương hiệu mỹ phẩm Frigate
1 · Vì sao chọn Serum HAIM cho điều trị tại spa
Kỹ thuật tại spa mở đường vào da hoặc kích viêm có chủ đích; chất được đưa vào da ở thời điểm ấy quyết định da tự chữa theo hướng nào. Serum HAIM hợp với vai này vì bốn lý do.
- Lành tính. Hyaluronic acid là phân tử da tự tạo ra và tự cắt bỏ mỗi ngày, nên HAIM đưa vào da là một chất da vốn quen (Phần 2). Hyaluronic acid tinh khiết, sạch nội độc tố không gây được phản ứng viêm. pH của HAIM là 5,5, bằng pH bề mặt da khỏe (Phần 8). HAIM ở dạng nước, ít thành phần, không hương liệu, nên khi đi theo đường kim và vi kênh, nó không mang theo những thành phần dễ gây dị ứng.
- Tín hiệu rõ ràng. Hoạt chất chính của HAIM là hyaluronic acid 100 kDa, gửi lệnh qua thụ thể CD44 của tế bào sừng non để dựng lại thượng bì. Cả lọ gửi 14 lệnh, không có cặp lệnh nào ngược nhau, và kết quả cuối cùng vẫn là một việc: dựng lại thượng bì (Phần 8). Sau thủ thuật, đó đúng là việc da cần: thượng bì phủ lại, và viêm chủ đích tự kết thúc (Phần 4).
- Tối giản chất. Nhãn HAIM có sáu dòng; ngoài hyaluronic acid, các chất còn lại chỉ để hòa tan, bảo quản và giữ pH (Phần 3). Vì vậy HAIM chiếm ít dung lượng nhận lệnh của tế bào, để lại chỗ cho chất đặc trị và kỹ thuật đi kèm; khi da có phản ứng, người làm cũng dễ biết nguồn từ đâu.
- Hợp với kỹ thuật. Hyaluronic acid ưa nước, nên được lợi khi đưa qua vi kim hơn các chất ưa dầu. HAIM vừa làm chất bôi trơn khi lăn kim, vừa trộn được vào bột Spicule, và cùng retinoid làm thượng bì dày lên qua CD44 (Phần 2).

2 · HAIM vào da lúc nào ở từng kỹ thuật
Hình dưới xếp các kỹ thuật theo lúc HAIM vào da. Số đứng trước tên kỹ thuật là số bài.
Chữ trong hình
- số trước tên kỹ thuật là số bài · viền đứt là suy đoán, chưa dùng thử
- Sau buổi: thoa HAIM ngay khi kỹ thuật dừng Không thoa lúc kỹ thuật đang làm; HAIM giúp thượng bì phủ lại hoặc giúp viêm tự kết thúc.
- Trong buổi: HAIM đi vào da cùng kỹ thuật HAIM làm chất bôi trơn, đi theo đường kim, vi kênh hay điện cực.
- Không cần HAIM riêng cho kỹ thuật HAIM chỉ vào khi có biến chứng làm da hở.
- 6.4 Nặn mụn trên nốt hở
- 6.13 Plasma lạnh tắt máy mới thoa
- 6.1 Lăn kim, vi kim HAIM làm chất bôi trơn
- Triệt lông chỉ khi bỏng mới dùng
- 6.5 Miếng dán vi kim sau khi gỡ miếng
- 6.14 Plasma nóng dưới vảy
- 6.2 RF vi kim HAIM làm chất bôi trơn
- RF không kim, HIFU chỉ khi bỏng mới dùng
- 6.15 Đốt điện dưới vảy
- 6.3 Peel bột Spicule HAIM trộn trong bát
- 6.6 Peel nông sau trung hòa hoặc rửa sạch
- Máy giảm mỡ, săn cơ chỉ khi bỏng lạnh mới dùng
- 6.17 Điện di HAIM ở cực âm
- 6.7 Peel TCA dưới vảy
- 6.16 Mài vi điểm, dermaplaning, hydrafacial
- Tiêm filler, botox, tan mỡ, căng chỉ Keo Bạc trên nốt kim
- 6.19 Phi kim, oxy jet HAIM làm tinh chất (suy đoán)
- 6.18 Siêu âm Wet5 làm chất dẫn
- 6.8 Laser vi điểm bóc tách không dùng lúc bắn
- Xông hơi, massage, đắp mặt nạ dùng routine thường
- 6.20 LED chiếu xong mới thoa
- 6.9 Laser vi điểm không bóc tách
- 6.21 Meso LR-PRP trên nốt kim, không tiêm
- 6.10 Laser sắc tố, xóa xăm trên đốm đóng vảy
- 6.22 Cắt đáy sẹo
- 6.11 Laser mạch máu
- 6.23 Phun xăm mày, môi trên vết xước
- 6.12 IPL không thay gel của máy
3 · Cách đọc các bài kỹ thuật
Mỗi bài kỹ thuật đi lần lượt qua năm thời điểm: chuẩn bị tại nhà, trong buổi, ngay sau khi làm, những ngày đầu, và sau đó. Bài nào có nhiều vấn đề da cần làm khác nhau thì có một bảng; bảng chỉ ghi chỗ khác nhau giữa các vấn đề da, còn điều dùng chung nằm trong phần chữ.
4 · Nguyên tắc dùng chung cho mọi kỹ thuật
Phác đồ chữa da ở nhà của Phần 5 chạy suốt liệu trình, nên mỗi bài kỹ thuật chỉ ghi chỗ khác phác đồ ấy. Bộ cơ bản ở nhà là Toner Gen2, Serum HAIM và Kem Xanh (Blue Cream); da hở hoặc da nghiện corticoid thêm Keo Bạc. Riêng với mụn, phác đồ ở nhà càng phải giữ, vì chỉ phác đồ ở nhà mới loại bỏ được vi nhân mụn.
Retinoid, AHA (acid trái cây), BHA (salicylic acid), benzoyl peroxide và hydroquinone chỉ bôi bề mặt, không đưa theo đường kim. Isotretinoin (thuốc uống trị mụn) không phải lý do để dời các kỹ thuật như laser, peel, lăn kim hay RF vi kim: làm kỹ thuật mở da ngay trong lúc khách đang uống isotretinoin không làm tăng sẹo hay chậm lành, và còn cho kết quả tốt hơn chờ ngưng thuốc 6 tháng.
Phòng tăng sắc tố cần chất có mặt sẵn trong da trước khi đợt viêm bắt đầu, nên chất ức chế men tạo melanin dùng từ 2 tuần trước buổi; kem làm trắng bắt đầu thoa sau laser không phòng tốt hơn kem chống nắng đơn thuần. Những ngày đầu, serum Vitamin C của Skinovation và kem chống nắng đảm nhận phần này (bằng chứng đo trực tiếp là của serum vitamin C kèm vitamin E và ferulic acid; với serum Skinovation, chỉ có 3-O-ethyl ascorbic acid, đó là suy đoán có cơ sở, xem Phần 9 mục 1.3), còn hyaluronic acid làm da bớt đỏ nhưng không làm giảm melanin. Với điều trị mụn, dù bằng kỹ thuật nào, azelaic acid thay serum vitamin C từ ngày đầu để tránh thâm. Kem chống nắng Anpo thoa buổi sáng từ ngày 1, kể cả khi da còn hở. Bảng dưới tóm tắt theo thời điểm, lấy từ Phần 9.
- Keo Bạc sản phẩm Frigate
- Chất tín hiệu dưới 0,1%
- Chất theo lượng từ 2%
| Thời điểm | Phòng tăng sắc tố | Lành thương, kiểm soát viêm |
|---|---|---|
| 2 tuần trước buổi | Chất ức chế men tạo melanin: Serum AKA, Kem Xanh, Kem Spicule, hydroquinone, azelaic acid | Bộ có Serum HAIM để dựng lại thượng bì |
| 1 ngày trước | Ngưng tretinoin, hydroquinone nếu đang dùng | — |
| Trong buổi | Làm mát da; da dễ tăng sắc tố: tranexamic acid tiêm trong da | Keo Bạc giữ sạch khuẩn |
| Ngày 0 | Serum Vitamin C Skinovation; điều trị mụn: azelaic acid | Keo Bạc → Serum HAIM, không kem dưỡng; ca cần: corticoid bôi tối đa 1 ngày |
| Từ ngày 1 | Kem chống nắng Anpo mỗi sáng, kể cả da còn hở | Serum HAIM ngày 2 lần; tránh thuốc kháng viêm không steroid |
| Da kín, hết đỏ rát | Quay lại chất ức chế men tạo melanin theo Phần 5 | Quay lại phác đồ Phần 5 |
Sau các kỹ thuật làm da hở, như lăn kim, RF vi kim, laser vi điểm bóc tách, plasma nóng và nặn mụn, HAIM đi cùng Keo Bạc và không phủ kem, vì da vừa mở cần khô để lành nhanh (Phần 1, mục 3.2). Sau peel, sau tiêm và sau các kỹ thuật giữ da kín, như laser không bóc tách, laser mạch máu và IPL, có thêm Kem Xanh; riêng cắt đáy sẹo cũng phủ Kem Xanh sau cùng (bài 6.22). Chuỗi chính xác của từng kỹ thuật nằm ở bài của kỹ thuật ấy, và da đã kín lại thì quay về quy tắc có kem phủ. Sau thủ thuật, HAIM thoa ngày 2 lần như bình thường.
Corticoid phòng tăng sắc tố mạnh nhưng làm chậm lành theo số ngày dùng, và thuốc kháng viêm không steroid làm chậm lành giai đoạn đầu. Vì vậy corticoid chỉ dùng cho ca dễ tăng sắc tố hoặc viêm quá mức, bôi kèm Keo Bạc để giữ sạch khuẩn, chỉ 1 ngày ngay sau buổi, và 1 ngày là tối đa; da nghiện corticoid thì không dùng, và thuốc kháng viêm không steroid không dùng để dập viêm. Các bài để HAIM giúp viêm tự đi tới đích. Bằng chứng đầy đủ nằm ở Phần 9.
Khi da còn hở, các chất đặc trị khác của Phần 5 tạm nghỉ; da vừa kín mà còn đỏ thì thêm Kem Xanh. Khi quay lại phác đồ Phần 5, bắt đầu lại từ chất ít kích ứng nhất.
5 · Kỹ thuật không cần Serum HAIM
Các kỹ thuật dưới đây không cần HAIM cho riêng kỹ thuật ấy; HAIM chỉ vào khi có biến chứng làm da hở.
- Triệt lông (laser, IPL): Không cần HAIM. Đỏ quanh nang thì Kem Xanh; viêm nang lông thì Keo Bạc. Chỉ khi bị bỏng mới dùng Keo Bạc → HAIM để thượng bì phủ lại.
- RF không kim, HIFU: Không cần HAIM riêng cho kỹ thuật; gel dẫn của máy, sau buổi dùng routine thường. Bỏng hiếm gặp thì làm mát, Keo Bạc → HAIM.
- Máy giảm mỡ, săn cơ (đông hủy mỡ, siêu âm phá mỡ, kích thích cơ): Không cần HAIM; da còn nguyên. Bỏng lạnh hiếm gặp thì Keo Bạc → HAIM.
- Tiêm filler, botox, tan mỡ, căng chỉ: Không cần HAIM; Keo Bạc trên nốt kim.
- Xông hơi, massage, đắp mặt nạ: Không cần HAIM riêng; dùng routine thường. Da đỏ, giãn mạch tránh xông nóng.
6 · Khi HAIM được đưa vào sâu hơn
Bôi lên da còn nguyên, hyaluronic acid 100 kDa dừng ở thượng bì nông, khoảng 50 µm (Phần 2, mục 2.1). Vì vậy có những tác động mà HAIM chỉ làm được khi được đưa vào đủ sâu. Bột Spicule, lăn kim, điện di, plasma lạnh hay siêu âm mở đường cho chất đi sâu hơn lớp sừng. Riêng với siêu âm, HAIM được thoa ngay sau khi làm máy xong, không dùng làm gel trong lúc chạy máy, vì sóng siêu âm cắt chuỗi hyaluronic acid (Phần 2, mục 4.3). Các đoạn dưới là suy đoán của chúng tôi, dựng từ dữ liệu đã đo khi hyaluronic acid được tiêm hoặc ủ trực tiếp với mô.
- Tuyến bã và da dầu. Thông thường, HAIM bôi khó tới tuyến bã nằm sâu trong trung bì, nên phần giảm dầu chắc nhất vẫn là quan sát buổi sáng sau khi thoa (Phần 7, mục 2.9). Nhưng nếu được tăng độ thấm bằng Spicule, lăn kim, điện di hay plasma, hyaluronic acid tới được tuyến bã, và khi tiêm trong da ở người da dầu, lượng bã giảm rõ từ tuần thứ 2. Suy đoán của chúng tôi là HAIM đưa sâu sẽ góp phần hạ bã nhờn ở da dầu và mụn ẩn, và giúp tuyến bã của nốt mụn đã viêm tự thoái lui (TN15).
- Chất nền trung bì, nếp nhăn và sẹo rỗ. Thông thường, phần trung bì của HAIM (TN11) chỉ ở ngưỡng C vì hyaluronic acid bôi ít tới trung bì. Nhưng nếu được tăng độ thấm, hyaluronic acid 50–400 kDa tới trung bì làm tăng men tạo hyaluronic acid, và cỡ 250 kDa làm collagen III tăng ở vết thương. Suy đoán của chúng tôi là HAIM đưa sâu sẽ giúp trung bì tự tái tạo rõ hơn, nên hợp với liệu trình sẹo rỗ và nếp nhăn bằng kim hoặc Spicule.
- Màng đáy. Thông thường, màng đáy nằm dưới tầm của HAIM bôi. Nhưng nếu được tăng độ thấm, hyaluronic acid có thể tới vùng nối thượng bì – trung bì, nơi một phức hợp hyaluronic acid nhỏ làm laminin-332 tăng trên da tái tạo. Suy đoán của chúng tôi là HAIM đưa sâu sẽ giúp màng đáy tự sửa (TN10), phần quan trọng của thâm nâu do màng đáy đứt gãy.
Đường vào da do mỗi kỹ thuật mở ra khép lại theo nhịp khác nhau. Hình dưới đặt cạnh nhau ba kỹ thuật đã có số đo.
Chữ trong hình
- thang thời gian nén · ba nguồn đo khác nhau, không so trực tiếp được
- 15 phút
- 1 giờ
- 6 giờ
- 1 ngày
- 5 ngày
- 15 phút đến vài giờ
- Lăn kim, vi kim đo trên người khỏe mạnh, không che kín (Ogunjimi 2021)
- HAIM
- thoa ngay sau buổi
- khép dần trong 120 giờ
- Bột Spicule đo trên da lợn (Zhang 2019)
- HAIM
- thoa đều những ngày sau
- đang chạy máy
- HAIM
- tắt máy mới thoa, vì gốc oxy hóa phân hủy hyaluronic acid
- Plasma lạnh đo với hEGF, chưa đo với hyaluronic acid (Ahn 2025)
7 · Nghiên cứu: bằng chứng cho các nhận định
Hình dưới gom các con số đo được trong nghiên cứu của các bài kỹ thuật; từng nghiên cứu nằm ở bài của kỹ thuật ấy.
Chữ trong hình
- nghiên cứu ở bài 6.1, 6.2, 6.7, 6.10 và 6.21 · mỗi ô một thang, bắt đầu từ 0
- Tăng sắc tố ở tuần 4 sau laser Q-switch
- Nửa mặt đã lành hẳn sau 7 ngày, peel TCA
- Bôi tretinoin trước peel
- 20,83%
- Thoa thiamidol từ 2 tuần trước
- Bôi giả dược
- Không thoa
- thấp hơn là tốt · Vachiramon 2024, thử nghiệm ngẫu nhiên
- cao hơn là tốt · Hevia 1991
- Thời gian đỏ da sau laser CO2 vi điểm
- Tỉ lệ giảm trung bình ở tuần 12
- Bên có PRP
- 8,6 ngày
- 20,86%
- RF đơn kim chích từng nốt
- Bên chứng
- 10,4 ngày
- Lăn kim cộng nặn mụn
- −5,13%
- thấp hơn là tốt · Lee 2011, so hai nửa mặt
- cao hơn là tốt · Ahn 2020
- Giảm số nốt mụn viêm sau buổi thứ ba
- Điểm sẹo Goodman và Baron giảm
- RF vi kim
- 47,72%
- Hyaluronic acid không liên kết chéo
- Quang động
- Insulin
- 49,18%
- cao hơn là tốt · Huang 2024
- cao hơn là tốt · Mohamed 2024, so hai bên mặt
Isotretinoin và kỹ thuật mở da
"The task force concludes that performing procedures such as laser hair removal, fractional lasers for aging and acne scarring, lasers for pigmented skin lesions, fractional radio-frequency microneedling, superficial and medium-depth peels, microdermabrasion, dermaroller, biopsies, radio-frequency ablation, and superficial excisions is safe in patients with concurrent or recent isotretinoin administration."
Nhóm chuyên gia kết luận rằng triệt lông bằng laser, laser vi điểm cho lão hóa và sẹo mụn, laser cho tổn thương sắc tố, RF vi kim, peel nông và trung bình, mài vi điểm, lăn kim, sinh thiết, đốt bằng sóng cao tần và cắt bỏ nông đều an toàn ở người đang hoặc vừa dùng isotretinoin.
Mysore và cộng sự, Journal of Cutaneous and Aesthetic Surgery, 2017, PMID 29491653
"Per our prospective trial, concurrent treatment of FACL -ITN is superior to delayed FACL treatment 6 months post-ITN cessation."
Theo thử nghiệm tiến cứu, bắn laser CO2 vi điểm trong lúc đang uống isotretinoin cho kết quả tốt hơn chờ 6 tháng sau khi ngưng thuốc.
Taleb và cộng sự, Lasers in Surgery and Medicine, 2024, PMID 37555247; trích từ tóm tắt
"There was insufficient evidence to support delaying manual dermabrasion, superficial chemical peels, cutaneous surgery, laser hair removal, and fractional ablative and nonablative laser procedures for patients currently receiving or having recently completed isotretinoin therapy."
Không đủ bằng chứng để phải hoãn mài da, peel nông, phẫu thuật da, triệt lông bằng laser và laser vi điểm bóc tách hay không bóc tách ở người đang uống hoặc vừa ngưng isotretinoin.
"This study with 504 interventions done in patients taking oral isotretinoin with – glycolic/salicylic/combination acid peels, fractional Er: YAG laser resurfacing/fractional CO2 laser and conventional CO2 laser resurfacing, microdermabrasion had a single documented keloid in glycolic peel group."
Trong 504 thủ thuật làm trên người đang uống isotretinoin, gồm peel glycolic, salicylic, peel phối hợp, laser Er:YAG và CO2 vi điểm, laser CO2 toàn phần và mài vi điểm, chỉ ghi nhận một ca sẹo lồi ở nhóm peel glycolic.
Mahadevappa và cộng sự, Journal of Cutaneous and Aesthetic Surgery, 2016, PMID 27398012
Kem làm trắng thoa sau laser
"In comparison, whitening creams and EGF did not demonstrate a statistically significant advantage over sunscreen alone."
So với chỉ dùng kem chống nắng, kem làm trắng và yếu tố tăng trưởng biểu bì không cho lợi ích có ý nghĩa thống kê.
Wongdama và cộng sự, Lasers in Surgery and Medicine, 2026, PMID 41535730
Nguồn
- Mysore V, Mahadevappa OH, Barua S, et al. Standard Guidelines of Care: Performing Procedures in Patients on or Recently Administered with Isotretinoin. Journal of Cutaneous and Aesthetic Surgery. 2017. PMID 29491653. DOI 10.4103/jcas.jcas_110_17.
- Taleb E, Gallo ES, Salameh F, Koren A, Shehadeh W, Artzi O. Fractional ablative CO2 laser and oral isotretinoin: a prospective randomized controlled split-face trial comparing concurrent versus delayed laser treatment for acne scars. Lasers in Surgery and Medicine. 2024;56:54–61. PMID 37555247. DOI 10.1002/lsm.23713.
- Spring LK, Krakowski AC, Alam M, et al. Isotretinoin and Timing of Procedural Interventions: A Systematic Review With Consensus Recommendations. JAMA Dermatology. 2017;153:802–809. PMID 28658462. DOI 10.1001/jamadermatol.2017.2077.
- Mahadevappa OH, Mysore V, Viswanath V, et al. Surgical Outcome in Patients Taking Concomitant or Recent Intake of Oral Isotretinoin: A Multicentric Study—ISO-AIMS Study. Journal of Cutaneous and Aesthetic Surgery. 2016;9:106–114. PMID 27398012. DOI 10.4103/0974-2077.184054.
- Wongdama S, Yenyuwadee S, Li JB, Saokaew S, Kanchanasurakit S, Manuskiatti W. Interventions to Prevent Postinflammatory Hyperpigmentation After Laser and Energy-Based Device Treatments: A Systematic Review and Network Meta-Analysis. Lasers in Surgery and Medicine. 2026;58:157–168. PMID 41535730. DOI 10.1002/lsm.70098.
Cần tư vấn cho làn da của bạn? Liên hệ với chúng tôi — các tư vấn đều miễn phí.
Liên hệ tư vấn