Dược sĩ phụ trách chuyên môn 24/7 — 0915 099 451
Frigate
← Bài giảng Serum HAIM

Bài giảng Serum HAIM · Bài 3 · 20 phút đọc

SERUM HAIM - Phần 3: Sức mạnh của 1 sản phẩm tối giản chất

Chỉ một chất duy nhất, hyaluronic acid 100 kDa, mà tác động được lên 13 vấn đề da. Bài đếm tín hiệu HAIM gửi tới tế bào, giải thích vì sao một chất có thể hơn nhiều chất, và vì sao HAIM vào được mọi phác đồ.

Dược sĩ Thu Huyền - Chủ thương hiệu mỹ phẩm Frigate

Chỉ cần một chất duy nhất, hyaluronic acid 100 kDa, Serum HAIM đã tác động được lên mười vấn đề da và ba tiến trình nền. Phần 3 chứng minh điều đó bằng hai bước: đếm tín hiệu HAIM gửi tới tế bào, rồi xem tác động của nó trên từng vấn đề da. Nhờ tối giản chất, HAIM còn đưa được vào bất kỳ phác đồ nào của bất kỳ hãng nào, với vai trò một hoạt chất chạy nền, nâng đỡ cho mọi treatment khác hoạt động hiệu quả.

1 · Đếm tín hiệu: vì sao một chất có thể hơn nhiều chất

Người làm skincare từng đánh giá công thức theo hai quan điểm trái ngược nhau, và cả hai nay đều không còn đúng.

  • Quan điểm 1: công thức càng nhiều chất tốt càng mạnh. Phối hợp nhiều chất sẽ hiệp đồng tác dụng, mang đến nhiều tác dụng hơn đơn chất, và nhiều chất ở nồng độ thấp thì khó gây kích ứng hơn một chất ở nồng độ cao. Quan điểm này không giải thích được vì sao có những công thức gồm rất nhiều chất, chất nào cũng tốt, mà hiệu quả trên da lại không bằng Serum HAIM chỉ có một hoạt chất.
  • Quan điểm 2: công thức càng tối giản càng hiệu quả. Càng ít chất thì nồng độ các chất chính càng cao, nên càng đạt hiệu quả điều trị, còn nhiều chất chỉ càng dễ gây kích ứng. Quan điểm này không giải thích được hiện tượng hiệp đồng: nồng độ của mỗi chất giảm đi mà tác dụng chung lại tăng lên. Đồng thời mỗi chất cũng tồn tại mức trần của nồng độ, tức là nếu quá nồng độ này, thì với da là có hại chứ không còn có lợi nữa.

Quan điểm mới nhìn công thức bằng tín hiệu gửi tới tế bào. Một chất chưa đủ lượng để tự làm việc vẫn có thể đủ để gửi tín hiệu tới tế bào, như bài Chất cần nồng độ cao và chất chỉ cần rất ít của Khóa học hoạt chất đã giải thích. Mỗi hoạt chất trong công thức là một hoặc nhiều mệnh lệnh gửi tới tế bào. Công thức càng nhiều chất thì tế bào nhận càng nhiều lệnh, và trong đó có những lệnh ngược nhau: chất này bảo tế bào làm, chất kia bảo tế bào dừng. Nhìn trên giấy tưởng các chất sẽ hiệp đồng, nhưng trên tế bào lại thành trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Khi các tín hiệu cùng chiều, nồng độ mỗi chất giảm mà tác dụng chung vẫn tăng, đó là hiệp đồng; khi các tín hiệu ngược nhau, công thức nhiều chất tốt vẫn thua một chất. Nồng độ thấp cũng không có nghĩa là chất ấy im lặng, nên nhiều chất ở nồng độ thấp vẫn là nhiều lệnh gửi tới tế bào. Vì vậy, số lượng chất và nồng độ đều chưa đủ để đánh giá một công thức: với mỗi hoạt chất, chúng tôi đếm số tín hiệu chất ấy gửi tới tế bào; khi đánh giá một công thức, chúng tôi cộng tín hiệu của mọi chất và đếm xem có bao nhiêu tín hiệu kéo ngược nhau.

Lệnh cùng chiều và lệnh ngược nhau trên một tế bào. Công thức không được tính bằng số chất tốt, mà bằng việc các lệnh gửi tới tế bào có cùng chiều hay không.
Lệnh cùng chiều và lệnh ngược nhau trên một tế bào. Công thức không được tính bằng số chất tốt, mà bằng việc các lệnh gửi tới tế bào có cùng chiều hay không.

Tế bào nhận quá nhiều tín hiệu cùng lúc thì sao? Nghiên cứu trên tế bào trả lời được ba câu, và cả ba đều đi ngược kỳ vọng "thoa càng nhiều càng tốt":

  • Tế bào có ưu tiên, và việc mỹ phẩm muốn nó làm lại bị cắt trước. Khi năng lượng có hạn, tế bào không chia đều cho mọi việc: tổng hợp protein, RNA và DNA giảm trước, còn bơm ion giữ tế bào sống giảm sau. Khi bị stress, tế bào còn hạ việc tổng hợp protein trên diện rộng để giữ năng lượng cho phòng vệ. Collagen và filaggrin đều là protein, nên lệnh tạo chúng có thể bị gác lại trước.
  • Các tín hiệu dùng chung một kho tài nguyên, nên chúng tranh nhau. Thụ thể của retinoid và corticoid tranh với đường tín hiệu AP-1 một lượng protein đồng hoạt hóa CBP/p300 có hạn. Hai gen độc lập chạy cùng lúc trong tế bào cũng kéo nhau xuống, vì dùng chung bộ máy sao chép và dịch mã. Vì vậy tín hiệu không cộng dồn như phép cộng: cùng hai tín hiệu có thể hiệp đồng ở gen này mà tranh nhau ở gen khác, và thoa nhiều chất cùng một lần khó đạt hiệp đồng như mong muốn.
  • Tế bào có mệt, và đáp ứng tín hiệu tốn năng lượng thật. Thụ thể bị kích thích lâu thì giảm đáp ứng. Nguyên bào sợi người chịu tín hiệu corticoid kéo dài tiêu tốn thêm 61,9% năng lượng lúc nghỉ, phân chia chậm đi 21,5% và mất 19,8% số lần phân chia cả đời. Tế bào đốt thêm được năng lượng để đáp ứng, nhưng phần đốt thêm ấy không miễn phí: nó trả bằng việc phân chia chậm đi và già nhanh hơn.
Năng lượng có hạn: tế bào cắt việc nào trước. Trong thí nghiệm này, tổng hợp protein giảm sớm nhất khi thiếu năng lượng, và collagen, filaggrin đều là protein.
Năng lượng có hạn: tế bào cắt việc nào trước. Trong thí nghiệm này, tổng hợp protein giảm sớm nhất khi thiếu năng lượng, và collagen, filaggrin đều là protein.
Các tín hiệu tranh một lượng CBP/p300 có hạn. Ở những gen cần CBP/p300, thêm tín hiệu không tạo thêm CBP/p300, nên tín hiệu nhiều hơn chưa chắc bật được nhiều gen hơn.
Các tín hiệu tranh một lượng CBP/p300 có hạn. Ở những gen cần CBP/p300, thêm tín hiệu không tạo thêm CBP/p300, nên tín hiệu nhiều hơn chưa chắc bật được nhiều gen hơn.

Vì vậy, thoa nhiều chất cùng một lần có thể mang đến lợi ích âm, vì số lệnh vượt quá sức làm việc của tế bào. Các phép đo trên là ở tế bào, và nguyên bào sợi chịu một chất kéo dài, chưa phải nhiều chất cùng lúc; chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu đo tổng hợp collagen, filaggrin và năng lượng trên mô da người khi bôi một, ba và sáu hoạt chất cùng lúc so với bôi so le. Vì vậy phần áp dụng lên việc thoa mỹ phẩm là suy đoán của chúng tôi, ngưỡng C: mỗi lần thoa chỉ nên giao tế bào ít lệnh và cùng chiều, còn lệnh khác thì tách sang buổi khác (nghiên cứu: mục 4.1).

Hyaluronic acid 100 kDa gửi bảy tín hiệu tới tế bào: sáu tín hiệu cùng đẩy da tự chữa đi tới, một tín hiệu kéo lùi, và không có cặp tín hiệu nào ngược nhau.

  1. Tế bào sừng non tăng sinh, làm thượng bì teo mỏng dày lại (TN4, ngưỡng A).
  2. Tế bào sừng non tạo filaggrin, nguyên liệu của chất giữ ẩm tự nhiên NMF (TN3, ngưỡng C).
  3. Tế bào sừng non tăng protein liên kết chặt ZO-1, và vết cào trên tế bào liền nhanh hơn (TN2, ngưỡng C).
  4. Nguyên bào sợi tăng men tạo hyaluronic acid và collagen III cho chất nền trung bì (TN11, ngưỡng C).
  5. Tế bào da giữ được mức Nrf2, công tắc chống oxy hóa, và men SOD2 sau tia UV (TN7, ngưỡng C).
  6. Tế bào tuyến bã giảm tổng hợp lipid khi hyaluronic acid tới được tuyến bã (TN15, ngưỡng C).
  7. Tín hiệu kéo lùi duy nhất đến từ mảnh nhỏ 15–40 kDa khi hyaluronic acid bị cắt: mảnh nhỏ bật thụ thể TLR4 và NF-κB của tế bào sừng non, thúc bước mẫn cảm (TN9, ngưỡng C).
Bảy tín hiệu của hyaluronic acid 100 kDa. Sáu lệnh cùng đẩy da tự chữa đi tới, nên tế bào không bị lệnh trái chiều làm rối.
Bảy tín hiệu của hyaluronic acid 100 kDa. Sáu lệnh cùng đẩy da tự chữa đi tới, nên tế bào không bị lệnh trái chiều làm rối.

Khi phối HAIM với sản phẩm khác, hãy hỏi chất đi cùng có gửi lệnh ngược với sáu lệnh trên hay không. Corticoid là ví dụ rõ nhất: nó bảo tế bào sừng non ngừng tăng sinh, đúng ngược với lệnh số 1 của HAIM, nên da đang dùng corticoid nhận được ít nhất của HAIM.

2 · HAIM trên mười vấn đề da và ba tiến trình nền

Chỉ một chất duy nhất mà tác động được chừng ấy vấn đề da. Bảng dưới đây là kết luận tổng quát về tác động của HAIM lên mười vấn đề da và ba tiến trình nền là viêm, kích ứng và dị ứng, nên đọc xong có thể suy ra cách dùng HAIM cho từng làn da. Hai hình đầu cho biết tỷ lệ mắt xích HAIM giúp được ở mỗi vấn đề, còn cột cuối của bảng trỏ tới phần giải thích bằng nghiên cứu.

Mắt xích hyaluronic acid 100 kDa giúp, theo từng vấn đề da. Hyaluronic acid giúp nhiều nhất ở da khô và sẹo rỗ, ít nhất ở da dầu, nơi da gần như không có tiến trình tự chữa.
Mắt xích hyaluronic acid 100 kDa giúp, theo từng vấn đề da. Hyaluronic acid giúp nhiều nhất ở da khô và sẹo rỗ, ít nhất ở da dầu, nơi da gần như không có tiến trình tự chữa.
Hyaluronic acid 100 kDa trên ba tiến trình nền. Hyaluronic acid đỡ phần kết thúc viêm và hàng rào; phần dung nạp mới có số đo ở HA lớn, phần thích nghi nêu theo suy đoán.
Hyaluronic acid 100 kDa trên ba tiến trình nền. Hyaluronic acid đỡ phần kết thúc viêm và hàng rào; phần dung nạp mới có số đo ở HA lớn, phần thích nghi nêu theo suy đoán.
Vấn đề daHAIM làm được gìCòn bỏ ngỏĐọc thêm
Nếp nhăn và lão hóaHAIM là chất đỡ nền cho nếp nhăn, không phải chất xóa nếp: nó làm thượng bì teo mỏng dày lại và đỡ trung bì nông tự tái tạo, nên da chậm lão hóa hơn.Nếp do co cơ và nếp hằn sâu là việc của chất đặc trị và kỹ thuật; phần làm đầy của HA chỉ là tạm thời.Phần 7, mục 2.1
Mụn ẩnHAIM góp phần nhẹ cho mụn ẩn: nó giúp cổ nang thay mới đều và có thể làm tuyến bã bớt tiết, rõ hơn khi được đưa sâu.Nhân mụn đã hình thành vẫn cần chất làm bong cổ nang và chất đặc trị; HAIM chưa phải sản phẩm trị mụn ẩn.Phần 7, mục 2.2
Mụn viêmHAIM đỡ phần lành của mụn viêm: nó giúp cơn viêm tự kết thúc, giữ hàng rào và đỡ thâm, sẹo sau mụn.HAIM không diệt khuẩn và còn có thể thêm tải cho vi khuẩn, nên vi nhân mụn và C. acnes cần chất đặc trị đi cùng.Phần 7, mục 2.3
Sẹo rỗSẹo rỗ là vấn đề HAIM giúp nhiều nhất về tỷ lệ: nó đỡ viêm sâu kết thúc và trung bì tự tái tạo, và mạnh hơn hẳn khi được đưa sâu bằng kim hay Spicule.HAIM không tự lấp được sẹo; phần nâng đáy sẹo cần kỹ thuật kích tái tạo trung bì.Phần 7, mục 2.4
Đỏ daHAIM chỉ đỡ phần nền của đỏ da: nó giữ hàng rào, giúp viêm tự kết thúc và chống oxy hóa, nên da bớt nhạy.Mạch máu giãn và thần kinh nhạy nằm ngoài tầm HAIM, ve Demodex giao cho Keo Bạc, nên HAIM không phải chất trị đỏ da và chỉ nên bôi bề mặt.Phần 7, mục 2.5
Sắc tốHAIM giữ phần nền của sắc tố: nó giúp viêm tự kết thúc, thượng bì thay mới đẩy sắc tố ra và màng đáy tự sửa.Nhà máy sắc tố (α-MSH, tyrosinase, chuyển melanosome) nằm ngoài tầm HAIM; đó là việc của chất đặc trị sắc tố.Phần 7, mục 2.6
Lỗ chân lông toHAIM giúp lỗ chân lông ở mức nền: nó làm nút sừng cổ nang bong đều và đỡ collagen quanh lỗ.Lượng bã và nội tiết đằng sau lỗ to vẫn cần chất đặc trị.Phần 7, mục 2.7
Da khôHAIM giúp dựng lại da khô từ bên trong: nó làm thượng bì thay mới và ra tín hiệu tạo filaggrin, nhưng đứng riêng lại làm da khô hơn.Phần giữ nước và nuôi hàng rào thuộc về kem dưỡng và Serum Wet5, nên với da khô HAIM luôn đi cùng kem phủ.Phần 7, mục 2.8
Da dầuHAIM kiểm soát dầu tốt dù da dầu gần như không có tiến trình tự chữa: da dầu thoa HAIM buổi tối thì sáng hôm sau tiết rất ít dầu, và hyaluronic acid còn làm tuyến bã giảm tổng hợp lipid.Nội tiết đằng sau da dầu (hormone nam, IGF-1) nằm ngoài tầm HAIM.Phần 7, mục 2.9
Viêm da cơ địaHAIM giúp viêm da cơ địa lành từ nền: nó dựng lại thượng bì, đỡ hàng rào và giúp viêm tự kết thúc, khi có kem phủ.HAIM có thể thêm tải cho tụ cầu vàng, nên phần kiểm soát vi khuẩn không thuộc về HAIM.Phần 7, mục 2.10
Tiến trình viêmHAIM giúp cơn viêm tự đi hết cung đường của nó: nó đỡ gần trọn chương trình kết thúc viêm mà không dập pha đầu.Khi tác nhân gây viêm còn ở lại, HAIM không loại được nó và còn có thể thêm tải cho vi sinh.Phần 7, mục 2.11
Kích ứngHAIM vừa đỡ vừa là tác nhân nhẹ của kích ứng: nó giữ hàng rào, giúp viêm kết thúc và có thể giúp da thích nghi với retinoid, nhưng có thể gây rát ở da thần kinh nhạy và đứng riêng làm lipid lớp sừng kém trật tự.Lượng và thời gian tiếp xúc chất kích ứng là việc của người dùng; HAIM luôn cần kem phủ.Phần 7, mục 2.12
Dị ứngHAIM an toàn với dị ứng và đỡ phần dung nạp ở mức nền: bản thân nó không gây mẫn cảm, và hyaluronic acid lớn giúp tế bào miễn dịch dung nạp.Mảnh hyaluronic acid nhỏ có thể thúc bước mẫn cảm, và việc loại dị nguyên nằm ngoài tầm HAIM; HAIM không phải chất trị dị ứng.Phần 7, mục 2.13

3 · Một hoạt chất chạy nền cho mọi phác đồ

Nhờ tối giản chất, Serum HAIM đưa được vào bất kỳ phác đồ nào của bất kỳ hãng nào, với vai trò một hoạt chất chạy nền, nâng đỡ cho mọi treatment khác hoạt động hiệu quả. Có ba lý do. Thứ nhất, HAIM chỉ có một hoạt chất nên thêm vào phác đồ rất ít lệnh, và các lệnh ấy cùng chiều nhau. Thứ hai, HAIM dịu với da nhạy cảm và dùng được ở mọi giai đoạn, kể cả lúc da đang bùng phát. Thứ ba, các lệnh của HAIM dựng lại thượng bì và hàng rào, đúng phần nền mà các treatment khác cần có để phát huy tác dụng.

Treatment trong phác đồHAIM nâng đỡ gì
Retinoidcùng cần thụ thể CD44 nên dùng chung làm thượng bì dày hơn (Phần 2, mục 4.5)
AHA, BHAgiữ thượng bì và hàng rào trong lúc acid làm bong sừng
Chất đặc trị sắc tốgiữ nền viêm và giúp thượng bì đẩy sắc tố ra
Chất đặc trị mụnđỡ phần lành: viêm tự kết thúc, đỡ thâm và sẹo sau mụn
Lăn kim, laser, peelgiúp thượng bì phủ lại nhanh sau kỹ thuật (Phần 6)

Dù đi trong phác đồ của hãng nào, HAIM vẫn giữ một quy tắc: trên da còn kín, phía trên HAIM luôn có kem dưỡng hoặc dầu dưỡng (Phần 1, mục 3.2). HAIM chạy nền chứ không thay chất đặc trị, nên phác đồ vẫn giữ nguyên các treatment đang dùng.

4 · Phần nghiên cứu: bằng chứng cho các kết luận

4.1 · Tế bào khi nhận nhiều tín hiệu cùng lúc

Trên tế bào tuyến ức chuột, các việc tiêu thụ năng lượng có thứ bậc rõ ràng. Thứ bậc này đổi theo loại tế bào: ở dòng tế bào gan người HepG2, tổng hợp protein và bơm Na+/K+ nhạy ngang nhau.

"There was a clear hierarchy of the responses of different energy-consuming reactions to changes in energy supply: pathways of macromolecule biosynthesis (protein synthesis and RNA/DNA synthesis) were most sensitive to energy supply, followed by sodium cycling and then calcium cycling across the plasma membrane."

Các phản ứng tiêu thụ năng lượng đáp ứng với thay đổi nguồn năng lượng theo một thứ bậc rõ ràng: các đường tổng hợp đại phân tử (tổng hợp protein và RNA/DNA) nhạy nhất với nguồn năng lượng, tiếp theo là chu trình natri rồi chu trình calci qua màng tế bào.

Buttgereit và Brand, Biochemical Journal, 1995, PMID 7492307

Khi tế bào bị stress, việc tổng hợp protein chung bị hạ xuống để giữ năng lượng:

"Coregulation of these signaling events ensures they are in sync to lower bulk translation and increase protein degradation, which together conserve energy and maximize stress remediation and prevention of cellular injury."

Sự phối hợp giữa các sự kiện tín hiệu này giúp chúng cùng nhịp để hạ dịch mã chung và tăng phân giải protein, nhờ đó giữ năng lượng, đồng thời tối đa việc xử lý stress và ngăn tổn thương tế bào.

Wek và cộng sự, Antioxidants & Redox Signaling, 2023, PMID 36943285

Thụ thể glucocorticoid và thụ thể retinoic acid ức chế đường tín hiệu AP-1 phần lớn vì hai bên tranh một lượng CBP/p300 có hạn. Cùng bài này nêu rằng các tín hiệu có thể hiệp đồng ở vùng khởi động của gen này và cạnh tranh ở vùng khởi động của gen khác:

"Here we report that, unexpectedly, activation by nuclear receptors requires the actions of CREB-binding protein (CBP) and that inhibition of AP-1 activity is the apparent result of competition for limiting amounts of CBP/p300 in cells."

Chúng tôi báo cáo rằng, ngoài dự đoán, sự hoạt hóa của thụ thể nhân cần protein gắn CREB (CBP), và việc ức chế hoạt tính AP-1 dường như là kết quả của cạnh tranh một lượng CBP/p300 có hạn trong tế bào.

Kamei và cộng sự, Cell, 1996, PMID 8616895

Ở tế bào động vật có vú, các gen chạy cùng lúc kéo nhau vì dùng chung tài nguyên. Thí nghiệm này dùng gen tổng hợp, chưa phải hoạt chất mỹ phẩm:

"We demonstrate in different mammalian cell lines that the sharing of transcriptional and translational resources in the host cell can tightly couple otherwise independently co-expressed synthetic genes and lead to trade-offs in their expression (Fig. 1a)."

Chúng tôi chứng minh trên nhiều dòng tế bào động vật có vú rằng việc dùng chung tài nguyên phiên mã và dịch mã của tế bào có thể ràng buộc chặt các gen tổng hợp vốn biểu hiện độc lập, và dẫn tới đánh đổi trong biểu hiện của chúng.

Frei và cộng sự, Nature Communications, 2020, PMID 32934213

Giảm đáp ứng khi bị kích thích lặp lại đã được mô tả rõ ở nhóm thụ thể GPCR:

"The term tachyphylaxis refers to the decreased responsiveness of a cell to repeated stimulation with drug, and can be due to both processes of GPCR-transducer uncoupling (acute or short-term desensitization) and GPCR downregulation (long-term desensitization) ( Figure 1 )."

Thuật ngữ quen thuốc nhanh chỉ việc tế bào giảm đáp ứng với kích thích lặp lại bằng thuốc, và có thể do cả hai quá trình: tách GPCR khỏi bộ truyền tin (giảm nhạy cấp, ngắn hạn) và giảm số thụ thể GPCR (giảm nhạy dài hạn).

Rajagopal và Shenoy, Cellular Signalling, 2018, PMID 28137506

Nguyên bào sợi của ba người khỏe mạnh được nuôi với dexamethasone, một corticoid, suốt đời sống của tế bào. Đáp ứng tín hiệu kéo dài làm tế bào tốn năng lượng hơn và già nhanh hơn:

"This total ATP consumption showed that Dex increased total resting energy expenditure across the lifespan (JATP-Total/cell volume) by a striking 61.9% (p < 0.001, Fig. 2C)."

Tổng mức tiêu thụ ATP này cho thấy dexamethasone làm tổng năng lượng tiêu hao lúc nghỉ trên suốt đời sống tế bào tăng tới 61,9%.

Bobba-Alves và cộng sự, Psychoneuroendocrinology, 2023, PMID 37423094

"Dex caused a premature halting of population doubling, resulting in an average 19.8% reduction in the Hayflick limit across the three donors (p < 0.05, Fig. 8A–B)."

Dexamethasone làm tế bào ngừng nhân đôi sớm, khiến giới hạn phân chia Hayflick giảm trung bình 19,8% ở cả ba người cho tế bào.

Bobba-Alves và cộng sự, Psychoneuroendocrinology, 2023, PMID 37423094

Trên da người có ví dụ rõ về hai tín hiệu ngược nhau trên cùng một chương trình. Trên cẳng tay người khỏe, sau 4 tuần, tazarotene làm thượng bì dày thêm 62%, corticoid diflorasone làm thượng bì mỏng đi 43%, và khi bôi cả hai cách nhau 1 giờ thì thượng bì vẫn mỏng đi 28%, tức phần teo bớt được 37%. Hai tác động không cộng thẳng vào nhau, và theo cách đọc của chúng tôi, lệnh kéo lùi của corticoid đã thắng. Đây là nghiên cứu thí điểm trên người trẻ da trắng, có sự tham gia của hãng sản xuất tazarotene:

"Concomitant application of tazarotene gel 0.1% with diflorasone diacetate did not entirely prevent atrophy, but was shown to ameliorate 37% of the epidermal atrophy induced by diflorasone diacetate alone (P < or = 0.003 compared with steroid monotherapy)."

Bôi đồng thời tazarotene gel 0,1% với diflorasone diacetate không ngăn được hoàn toàn tình trạng teo da, nhưng cải thiện được 37% phần teo thượng bì do diflorasone diacetate đơn độc gây ra.

Kaidbey và cộng sự, International Journal of Dermatology, 2001, PMID 11679006

Độ dày thượng bì sau 4 tuần trên cẳng tay người khỏe. Với cặp chất này, hai tác động ngược nhau không cộng thẳng: có cả hai, thượng bì vẫn mỏng đi.
Độ dày thượng bì sau 4 tuần trên cẳng tay người khỏe. Với cặp chất này, hai tác động ngược nhau không cộng thẳng: có cả hai, thượng bì vẫn mỏng đi.

Vùng da quanh mảng vảy nến cho cùng chiều: betamethasone làm thượng bì mỏng đi 19%, còn dùng cùng tretinoin 0,1% thì thượng bì tăng 1% (P = 0,067), và hiệu quả trên mảng vảy nến không đổi (McMichael và cộng sự, British Journal of Dermatology, 1996, PMID 8776360). Trên chuột, tách hai tín hiệu ra hai buổi vẫn giữ được cả hai tác dụng: sáng bôi corticoid, chiều bôi retinoic acid thì da không mỏng đi mà kháng viêm không giảm (Lesnik và cộng sự, Journal of the American Academy of Dermatology, 1989, PMID 2768567).

Thuật ngữ dùng trong bài

Nguồn

  • Buttgereit F, Brand MD. A hierarchy of ATP-consuming processes in mammalian cells. Biochemical Journal. 1995;312:163–167. PMID 7492307. DOI 10.1042/bj3120163.
  • Wieser W, Krumschnabel G. Hierarchies of ATP-consuming processes: direct compared with indirect measurements, and comparative aspects. Biochemical Journal. 2001;355:389–395. PMID 11284726. DOI 10.1042/0264-6021:3550389.
  • Wek RC, Anthony TG, Staschke KA. Surviving and adapting to stress: translational control and the integrated stress response. Antioxidants & Redox Signaling. 2023;39:351–373. PMID 36943285. DOI 10.1089/ars.2022.0123.
  • Kamei Y, Xu L, Heinzel T, et al. A CBP integrator complex mediates transcriptional activation and AP-1 inhibition by nuclear receptors. Cell. 1996;85:403–414. PMID 8616895. DOI 10.1016/S0092-8674(00)81118-6.
  • Frei T, Cella F, Tedeschi F, et al. Characterization and mitigation of gene expression burden in mammalian cells. Nature Communications. 2020;11:4641. PMID 32934213. DOI 10.1038/s41467-020-18392-x.
  • Rajagopal S, Shenoy SK. GPCR desensitization: acute and prolonged phases. Cellular Signalling. 2018;41:9–16. PMID 28137506. DOI 10.1016/j.cellsig.2017.01.024.
  • Bobba-Alves N, Sturm G, Lin J, et al. Cellular allostatic load is linked to increased energy expenditure and accelerated biological aging. Psychoneuroendocrinology. 2023;155:106322. PMID 37423094. DOI 10.1016/j.psyneuen.2023.106322.
  • Kaidbey K, Kopper SC, Sefton J, Gibson JR. A pilot study to determine the effect of tazarotene gel 0.1% on steroid-induced epidermal atrophy. International Journal of Dermatology. 2001;40:468–471. PMID 11679006. DOI 10.1046/j.1365-4362.2001.01234.x.
  • Lesnik RH, Mezick JA, Capetola R, Kligman LH. Topical all-trans-retinoic acid prevents corticosteroid-induced skin atrophy without abrogating the anti-inflammatory effect. Journal of the American Academy of Dermatology. 1989;21:186–190. PMID 2768567. DOI 10.1016/s0190-9622(89)70159-6.
  • McMichael AJ, Griffiths CE, Talwar HS, et al. Concurrent application of tretinoin (retinoic acid) partially protects against corticosteroid-induced epidermal atrophy. British Journal of Dermatology. 1996;135:60–64. PMID 8776360. DOI 10.1111/j.1365-2133.1996.tb03608.x.

Cần tư vấn cho làn da của bạn? Liên hệ với chúng tôi — các tư vấn đều miễn phí.

Liên hệ tư vấn