SERUM HAIM - Phần 2: Hyaluronic acid 100 kDa
Hyaluronic acid 100 kDa, hoạt chất duy nhất của Serum HAIM, làm biểu bì dày lên, kể cả làn da teo mỏng do lạm dụng corticoid. Bài giải thích cỡ phân tử này đi tới đâu trên da, vì sao nó nắm được thụ thể CD44, vì sao câu giữ nước gấp 1.000 lần là hiểu lầm, và HAIM phối hợp với hoạt chất nào.
Dược sĩ Thu Huyền - Chủ thương hiệu mỹ phẩm Frigate
Hyaluronic acid 100 kDa là hoạt chất duy nhất của Serum HAIM. Hoạt chất này làm biểu bì da dày lên, kể cả làn da teo mỏng do lạm dụng corticoid. Cỡ phân tử 100 kDa có mặt trong nước ối của bào thai 16 tuần tuổi, đúng lúc thượng bì của bào thai bắt đầu xếp thành nhiều lớp. Bác sĩ Fukaya, một trong các bác sĩ cai corticoid nổi tiếng thế giới, khuyên dùng hyaluronic acid cỡ này cho người đang cai corticoid.
Điểm chính
Điều mới so với Phần 1
- Hyaluronic acid (HA) là chuỗi phân tử đường mà cơ thể tự tổng hợp trên da, nặng hàng nghìn kDa và được thay mới liên tục. Khi HA được bôi lên da, da nhận ra đây là những phân tử rất quen thuộc nên gần như không bao giờ kích ứng; người ta còn tiêm được HA vào trong da (mục 1.1).
- Thông thường, ai cũng nói rằng HA có khả năng giữ nước gấp 1.000 lần trọng lượng của nó. Thực tế đây là một hiểu lầm lớn: HA nhốt được nhiều nước giữa các sợi như miếng bọt biển, nhưng nước ấy vẫn bay hơi như nước thường. Mỗi gam hyaluronic acid giữ chặt khoảng 0,36–0,86 gam nước, cùng hạng với glycerin (mục 1.2).
- Hyaluronic acid tinh khiết, sạch nội độc tố, ở mọi kích thước đã thử không gây viêm. Điều này đập tan hiểu lầm từ xưa đến nay rằng HA dưới 50 kDa gây viêm khi bôi (nghiên cứu: mục 7.7).
- Đo trên da người, HA 100 kDa qua lớp sừng và vào tới khoảng gian bào của lớp gai, sâu khoảng 50 µm, nơi tế bào sừng non mang nhiều thụ thể CD44 nhất. Do đó, chỉ cần thoa Serum HAIM hằng ngày, da đã nhận được các lợi ích đến từ HA 100 kDa (mục 2.1).
- Các cỡ hyaluronic acid chia nhau hai việc của thượng bì: trên da chuột già, HA nhỏ làm tế bào sừng non tăng sinh và da dày lên, còn HA lớn 700–1.000 kDa phục hồi hàng rào. HA 100 kDa của HAIM nghiêng về việc thúc tăng sinh, và đây là một hướng giải thích vì sao HAIM làm da khô hơn (mục 4.4).
- HAIM dùng chung được với niacinamide, panthenol, allantoin, copper tripeptide-1, vitamin C, AHA và BHA; da đang bong hoặc rát thì giãn cách acid ra và giữ HAIM (mục 4.6).
Nhắc lại từ Phần 1, kèm phần giải thích sâu hơn trong bài này
- HA 100 kDa đủ dài để nắm cùng lúc nhiều thụ thể CD44. HA dưới 50 kDa và HA trên 400 kDa đều không làm tế bào sừng non tăng sinh, nên với hyaluronic acid, nhỏ hơn không có nghĩa là tốt hơn (mục 2.2).
- Khi các thụ thể CD44 được kéo lại gần nhau, tế bào sừng non tăng sinh và tự tạo lại hyaluronic acid. Cỡ 100 kDa cũng giữ nước như mọi hyaluronic acid, nên HAIM vừa giữ nước, vừa làm việc bằng tín hiệu, điều mà hyaluronic acid phân tử lớn của serum cấp ẩm không làm được (mục 2.3).
- Hyaluronic acid 100 kDa của HAIM làm da teo mỏng dày lên. Trên người, HA cỡ 50–400 kDa, khoảng cỡ có HA 100 kDa của HAIM, làm da teo do tuổi hoặc do corticoid dày lại, và không tác động lên da bình thường (nghiên cứu: mục 7.6 và 7.11).
- Da đang dùng hoặc đang cai corticoid là nhóm cần hoạt chất này nhất, vì corticoid làm tế bào sừng non tạo ít hyaluronic acid và mất bớt thụ thể CD44 (nghiên cứu: mục 7.6).
- Retinoid và HA 100 kDa hiệp đồng tác dụng qua CD44 để làm thượng bì dày lên, nên Serum Ret1 đặt retinol cạnh hyaluronic acid 100 kDa (mục 4.5).
- HAIM làm da khô hơn, nên trên da còn kín, phía trên HAIM luôn có kem phủ. Hai ngoại lệ không cần kem là vết thương hở cần khô để lành nhanh và da dầu buổi tối (mục 4.4).
- HAIM dùng được ở mọi giai đoạn, kể cả lúc da đang bùng phát, nhưng không phải thuốc kháng viêm: nó không thay thuốc khi da đang viêm cấp (mục 4.2).
- Không dùng HAIM làm gel cho máy siêu âm, vì sóng siêu âm cắt HA 100 kDa thành HA nhỏ hơn, mất tín hiệu; serum được bôi sau khi làm máy xong (mục 4.3).
1 · Hyaluronic acid 100 kDa là gì
1.1 · Hyaluronic acid nói chung
Hyaluronic acid (HA) là chuỗi phân tử đường mà cơ thể tự tổng hợp trên da, một chuỗi rất dài, ghép từ một đơn vị lặp đi lặp lại gồm hai phân tử đường (glucuronic acid và N-acetylglucosamine). Da tự làm ra chất này, nên hyaluronic acid bôi lên da là một phân tử da vốn quen, không phải một chất lạ.
Hyaluronic acid của chính da là những chuỗi rất lớn, khoảng 4.000–6.000 kDa. Ở biểu bì, nó nằm trong khoảng trống giữa các tế bào sống và được tạo nhiều nhất ở lớp đáy và lớp gai, hai lớp đang phân chia. Lượng hyaluronic acid ấy được thay mới liên tục, với thời gian bán hủy khoảng một ngày (nghiên cứu: mục 7.1).
Khối lượng phân tử của hyaluronic acid được đo bằng dalton; 1 kDa bằng 1.000 dalton. kDa đo khối lượng, không đo độ dài, nhưng HA càng nặng thì chuỗi càng dài. Mỗi đơn vị lặp lại nặng khoảng 400 dalton, nên một HA 100 kDa dài khoảng 250 đơn vị, còn một chuỗi 5.000 kDa của da dài khoảng 12.000 đơn vị. Cỡ phân tử quyết định hyaluronic acid dừng ở đâu trên da và làm việc gì: loại trên 1.000 kDa đọng ở lớp sừng và giữ nước bằng lượng, loại khoảng 100 kDa đi qua lớp sừng và mang tín hiệu, loại dưới 50 kDa thấm sâu nhất nhưng không còn làm tế bào sừng non tăng sinh (Phần 1, mục 4.1).
Trên bảng thành phần, hyaluronic acid có nhiều tên: Sodium Hyaluronate (dạng muối natri, hay gặp nhất), Hyaluronic Acid, Potassium Hyaluronate, Sodium Acetylated Hyaluronate và các dạng Hydrolyzed. Không tên nào cho biết phân tử lượng; nhãn Serum HAIM ghi rõ cỡ khoảng 100 kDa.
1.2 · "Giữ nước gấp 1.000 lần trọng lượng": nước bị nhốt và nước được giữ lại
Câu này có trên gần như mọi trang giới thiệu hyaluronic acid. Nó sinh ra từ một phép đo có thật nhưng bị hiểu sai. Khi đo kích thước phân tử hyaluronic acid trong nước, nhà hóa sinh Ogston thấy mỗi chuỗi cuộn thành một búi lỏng chiếm khoảng 6.000 ml cho mỗi gam, và búi ấy kéo theo rất nhiều nước khi di chuyển, dù nước ấy không gắn vào chuỗi. Về sau, các bài tổng quan chép lại thành "sáu lít nước cho mỗi gam" hay "gấp nghìn lần" mà không kèm dữ liệu nào (nghiên cứu: mục 7.2).
Trong pha chế, chỉ 0,2 g HA phân tử lớn đã làm 100 g nước thành gel, nên HA dễ được tin là giữ nước gấp hàng trăm, hàng nghìn lần. Thật ra HA giống miếng bọt biển: các sợi dài rối vào nhau và nhốt nước ở giữa, nhưng nước ấy vẫn bay hơi như nước thường. Phần nước HA thật sự níu lại được chỉ chưa tới 1 gam cho mỗi gam HA, cùng hạng với glycerin.
Các phép đo phần nước được níu lại cho thấy mỗi gam hyaluronic acid giữ chặt khoảng 0,36 đến 0,86 gam nước, trong khi glycerin trong dung dịch loãng giữ khoảng 1,23 gam nước cho mỗi gam. Khi đun nóng dần, dung dịch hyaluronic acid mất nước y hệt nước cất, còn dung dịch glycerin giữ lại được một phần. Một phép đo độc lập bằng quang phổ cũng không thấy hyaluronic acid giữ nước khác thường so với dextran, một chuỗi đường tương tự (nghiên cứu: mục 7.2).
Hyaluronic acid vẫn là một chất giữ ẩm tốt; điều sai chỉ là con số nghìn lần. Nước được giữ ở từng đơn vị lặp lại của chuỗi, khoảng 14 phân tử nước cho mỗi đơn vị, nên HA 100 kDa vẫn giữ nước như mọi hyaluronic acid. Trên người, kem hyaluronic acid 0,1% ở cả năm cỡ từ 50 đến 2.000 kDa, kể cả cỡ 130 kDa gần với HAIM, đều làm da ẩm hơn sau 60 ngày (nghiên cứu: mục 7.2). Với Serum HAIM, cỡ 100 kDa giữ nước như vậy, và có thêm tín hiệu gửi tới tế bào sừng non.
1.3 · Cỡ khoảng 100 kDa: một mảnh, không phải một chuỗi nguyên
HA 100 kDa ngắn hơn hyaluronic acid tự nhiên của da khoảng năm mươi lần, tức nằm ở cỡ của một mảnh hyaluronic acid chứ không phải cỡ của một chuỗi nguyên. Cỡ khoảng 100 kDa có trong nước ối của bào thai 16 tuần tuổi, lúc thượng bì của bào thai bắt đầu xếp thành nhiều lớp (Phần 1, mục 4.1). Mục 2 giải thích vì sao đúng cỡ này đi được qua lớp sừng và nắm được thụ thể của tế bào sừng non.
2 · Hoạt động trên da như thế nào
2.1 · Đến được tầng nào
Một nghiên cứu soi da bụng người bằng quang phổ Raman, sau khi bôi hyaluronic acid 1% ở ba cỡ phân tử, cho thấy hyaluronic acid 100–300 kDa đi qua lớp sừng và có mặt ở lớp nông của biểu bì, tới khoảng 50 µm, còn loại trên 1.000 kDa chỉ ở lớp sừng (Essendoubi và cộng sự, 2016; nghiên cứu: mục 7.3).
Hyaluronic acid 100 kDa không phải chất cấp ẩm bề mặt như loại phân tử lớn. Nó đi qua lớp sừng và vào tới khoảng gian bào của lớp gai, nơi tế bào sừng non mang nhiều thụ thể CD44 nhất; đo trên da người, dải 100–300 kDa có mặt tới khoảng 50 µm, ở lớp nông của biểu bì ngay dưới lớp sừng (Phần 1, mục 4.1; nghiên cứu: mục 7.3). Do đó, chỉ cần thoa Serum HAIM hằng ngày, da đã nhận được các lợi ích đến từ HA 100 kDa.
2.2 · Vì sao phải đủ dài: thụ thể CD44 cần được nắm ở nhiều điểm cùng lúc
Tế bào sừng non nhận biết hyaluronic acid qua thụ thể CD44, một protein nằm trên màng tế bào. Trong biểu bì người, CD44 dày nhất ở lớp gai, và tập trung ở mặt màng tế bào quay ra khoảng gian bào giàu hyaluronic acid (nghiên cứu: mục 7.4).
Một điểm nắm giữa hyaluronic acid và CD44 là một liên kết yếu. Muốn giữ chặt, chuỗi hyaluronic acid phải đủ dài để nắm nhiều CD44 cùng lúc. Trên màng nhân tạo phủ dày CD44, lượng hyaluronic acid bám vào tăng theo chiều dài chuỗi (nghiên cứu: mục 7.4).
Mảnh quá ngắn không chỉ nắm lỏng, mà còn làm rã các cụm CD44 mà chuỗi dài vừa gom lại, vì mỗi mảnh ngắn chỉ chiếm một thụ thể (nghiên cứu: mục 7.4).
Thí nghiệm trực tiếp trên tế bào sừng non cho thấy chỉ một cửa sổ kích thước làm tế bào tăng sinh, và cửa sổ ấy cần CD44 (nghiên cứu: mục 7.4).
Trong thí nghiệm này, HA trên 400 kDa không làm tế bào sừng non tăng sinh. Cách giải thích được dùng là chuỗi quá dài nắm được CD44 nhưng không kéo các thụ thể lại đủ gần để truyền tín hiệu, còn mảnh quá nhỏ thì không nắm nổi hai thụ thể; đoạn HA khoảng 100 kDa là cỡ vừa khít cho việc này.
Với hyaluronic acid, nhỏ hơn không có nghĩa là tốt hơn. Mảnh càng nhỏ thì thấm càng sâu, nhưng từ 10 kDa trở xuống chỉ gắn rồi nhả khỏi CD44 (dải 10–30 kDa chưa được đo), và dưới 50 kDa thì không còn làm tế bào sừng non tăng sinh.
2.3 · Từ cái nắm đến tín hiệu tăng sinh
Khi chuỗi hyaluronic acid 100 kDa nắm và kéo các CD44 lại gần nhau, phía bên trong tế bào một chuỗi phản ứng nối tiếp được bật lên. Protein CDC42 được kích hoạt, khung actin của tế bào được dựng lại, tế bào mọc ra các chân giả nhỏ, và trên các chân giả ấy thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) bắt đầu làm việc. Kết quả là tế bào sừng non tăng sinh, và đồng thời tự tạo lại hyaluronic acid.
Các phân tử tham gia chuỗi này nằm gần nhau trên cùng một vùng màng của tế bào sừng non, được gọi là hyalurosome (nghiên cứu: mục 7.5).
Hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa còn làm tăng enzyme tạo hyaluronic acid trong da (nghiên cứu: mục 7.5).
cách chia chất làm việc bằng lượng và chất làm việc bằng tín hiệu đã chia hoạt chất thành chất làm việc bằng lượng và chất làm việc bằng tín hiệu. Hyaluronic acid phân tử lớn là chất làm việc bằng lượng: lớp màng giữ nước dày hay mỏng tùy lượng bôi. Hyaluronic acid 100 kDa làm cả hai việc: nó vẫn giữ nước như mọi hyaluronic acid, và nó là chất làm việc bằng tín hiệu, bật lại công tắc để tế bào tự tạo hyaluronic acid, điều mà loại phân tử lớn không làm được.
3 · Có thể mang lại những lợi ích gì
3.1 · Làm dày lại biểu bì mỏng do tuổi và do corticoid
Corticoid bôi kéo dài làm da mỏng, và hyaluronic acid là một trong những thứ bị mất sớm nhất. Trên da người được bôi thuốc mỡ dexamethasone, lượng hyaluronic acid giảm nhanh vì tế bào ngừng tạo (chủ yếu do giảm enzyme HAS2), chứ không phải vì bị phân hủy nhiều hơn (nghiên cứu: mục 7.6).
Ở tế bào sừng non của người, clobetasol (một corticoid rất mạnh) làm sập đúng nền hyalurosome đã mô tả ở mục 2.3, và hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa dựng lại được nó (nghiên cứu: mục 7.6).
Corticoid không phá hỏng bộ máy tạo hyaluronic acid. Nó đạp phanh ở khâu đọc gen HAS3, nên khi tín hiệu từ bên ngoài được cấp lại, đường tín hiệu chạy lại được ngay cả lúc HAS3 còn bị ức chế. Đây là chỗ hyaluronic acid 100 kDa làm việc.
Trên da người, bằng chứng đầu tiên đến từ cẳng tay của người cao tuổi bị teo da (nghiên cứu: mục 7.6).
Nhóm người trong nghiên cứu này có 6 ca teo da, bôi kem 1% hai lần mỗi ngày trong một tháng (p < 0,01). Một nghiên cứu khác dùng chính loại lotion 50–110 kDa mà Fukaya đưa vào phác đồ cai corticoid, bôi vùng cổ trong hai tuần ở 10 người trên 60 tuổi, và soi sinh thiết (nghiên cứu: mục 7.6).
Trong nghiên cứu ấy, dấu hiệu tế bào đang phân chia tăng ở 8/10 người và filaggrin, protein của lớp hàng rào, tăng ở 6/10 người. Nghiên cứu không có nhóm đối chứng, và lotion do chính Fukaya cung cấp.
Da già đi cũng mất hyaluronic acid đúng ở tầng này (nghiên cứu: mục 7.6).
Đây là lý do hyaluronic acid 100 kDa nằm trong bộ phục hồi cho da mỏng do corticoid và da già mỏng yếu. Cách đọc diễn tiến của da nghiện corticoid được học sâu ở Khóa học chữa da nghiện corticoid.
3.2 · Da dầu tiết ít dầu
Thoa HAIM buổi tối mà không phủ kem khóa ẩm, sáng hôm sau da dầu tiết cực kỳ ít dầu so với các cách chăm sóc da khác, và hiệu quả thấy ngay từ sáng sau đêm đầu tiên. Bốn hướng giải thích và các nghiên cứu về hyaluronic acid với tuyến bã nằm ở Phần 1, mục 8.8.
4 · Nồng độ và khả năng kết hợp
4.1 · Nồng độ
Hyaluronic acid trong mỹ phẩm lưu trên da mặt được dùng tới 7,5%, và hội đồng an toàn mỹ phẩm Hoa Kỳ (CIR) kết luận các hyaluronat an toàn ở cách dùng và nồng độ hiện hành. Nồng độ hyaluronic acid của HAIM nằm trong phạm vi đó (Phần 1, mục 8.5).
4.2 · Da mỏng, da đang bùng phát, da rất nhạy cảm
Hyaluronic acid 100 kDa dùng được ở mọi giai đoạn, kể cả khi da đang bùng phát hay chưa ổn định. Với da nhạy cảm tới mức phản ứng với gần như mọi thứ, một serum nền nước đơn giản như HAIM thường vẫn dung nạp được. Hyaluronic acid 100 kDa giữ vai trò dựng lại biểu bì xuyên suốt lộ trình, và không dừng khi các hoạt chất giai đoạn sau như niacinamide hay retinol được đưa vào.
Hyaluronic acid 100 kDa không phải thuốc kháng viêm. Nó không thay được corticoid khi da đang viêm cấp cần thuốc theo đơn; vai trò của nó là chống teo và dựng lại biểu bì.
4.3 · Không dùng serum hyaluronic acid làm gel cho máy siêu âm
Sóng siêu âm cắt được chuỗi hyaluronic acid thành những mảnh ngắn hơn. Chính các mảnh hyaluronic acid trong nghiên cứu nền tảng của mục 2.2 được làm ra theo cách đó (nghiên cứu: mục 7.7).
Từ HA lớn, cách cắt ấy cho ra HA 50–400 kDa; với HA vốn đã khoảng 100 kDa, cắt tiếp nghĩa là đẩy HA xuống dưới cửa sổ ấy. Dùng serum 100 kDa làm môi trường dẫn sóng là tự tay cắt HA đúng cỡ thành HA nhỏ ngay trên da. HA nhỏ thì không nắm được nhiều CD44, và như mục 2.2 đã chỉ ra, còn làm rã các cụm CD44 mà HA đúng cỡ cần. Lau sạch rồi bôi lại serum mới sau buổi siêu âm cũng không gỡ được HA nhỏ đã tạo ra.
Thứ bị mất ở đây là tín hiệu dựng lại, không phải một phản ứng viêm mới. Hyaluronic acid tinh khiết, sạch nội độc tố, ở mọi kích thước đã thử, không làm đại thực bào và tế bào tua tiết chất gây viêm; các phản ứng viêm từng được báo trước đây đến từ mẫu hyaluronic acid bị nhiễm nội độc tố (nghiên cứu: mục 7.7). Điều này đập tan hiểu lầm từ xưa đến nay rằng HA dưới 50 kDa gây viêm khi bôi.
Trên chuột được gắn gen để biểu hiện quá mức men cắt HYAL1, hyaluronic acid trong da bị cắt dần thành mảnh dưới 27 kDa, và da cũng không viêm (nghiên cứu: mục 7.7).
Mô hình này là da bị cắt hyaluronic acid kéo dài do gen, không phải một lần cắt đột ngột bằng sóng siêu âm, nên nó trả lời câu hỏi mảnh nhỏ có gây viêm hay không, chưa đo việc siêu âm cắt chuỗi trên da người.
Máy siêu âm cần gel dẫn riêng; serum hyaluronic acid 100 kDa bôi sau khi đã làm xong máy.
4.4 · Vì sao HAIM làm da khô hơn, và khi nào không cần kem phủ
HAIM kích thích tái tạo nên làm da khô hơn, dù bản thân hyaluronic acid 100 kDa vẫn giữ nước (mục 1.2). Da khô hơn, hoặc có cảm giác khô hơn, là hệ quả của việc thượng bì được thúc thay mới, không phải dấu hiệu chất này không giữ được nước. Hai dữ kiện về cỡ phân tử giúp hiểu vì sao hai điều ấy đi cùng nhau.
Dữ kiện thứ nhất là các cỡ hyaluronic acid chia nhau hai việc khác nhau của thượng bì. Trên da chuột già, hyaluronic acid nhỏ làm tế bào sừng non tăng sinh và da dày lên nhưng không phục hồi được hàng rào, còn hyaluronic acid lớn 700–1.000 kDa thì ngược lại (nghiên cứu: mục 7.8).
Nghiên cứu này làm trên chuột, không ghi cỡ của loại hyaluronic acid nhỏ trong phần tóm tắt, và không dùng đúng cỡ 100 kDa, nên nó không phải phép đo của HAIM. Một cách đọc khả dĩ, ghép với dữ liệu tăng sinh của mục 3.1: hyaluronic acid 100 kDa của HAIM nghiêng về nhánh tăng sinh, còn việc dựng lại hàng rào nghiêng về phần hyaluronic acid lớn, như phần tới 2.000 kDa của Serum Wet5, và về các chất nuôi lipid hàng rào trong kem dưỡng.
Dữ kiện thứ hai nằm ở lớp sừng. Phần 1, mục 8.3, đã dẫn phép đo trên da lợn cho thấy hyaluronic acid 100 kDa làm lipid giữa các tế bào sừng xếp kém trật tự hơn. Lipid xếp lỏng hơn là cửa để chính hoạt chất đi tiếp xuống lớp tế bào sống, và cũng là chỗ hơi nước dễ thoát ra khi không có lớp nào phủ lên.
Ghép hai dữ kiện lại, một hướng giải thích khả dĩ là HAIM thúc thượng bì thay mới nhanh hơn trong khi chính nó không giữ nước ở bề mặt, nên lớp sừng đang dựng lại chưa kịp kín và da thấy khô. Chưa có phép đo lượng nước mất qua thượng bì và độ ẩm lớp sừng khi dùng HAIM đơn độc so với HAIM có kem dưỡng phủ lên, nên phần giải thích này còn chờ số đo trên người.
Kem dưỡng phủ lên HAIM là cách giao phần giữ nước và nuôi hàng rào cho đúng chất làm việc ấy, để HAIM làm trọn phần ra tín hiệu của nó. Trên da còn kín, phía trên HAIM luôn có kem dưỡng hoặc dầu dưỡng. Hai ngoại lệ không cần kem phủ: vết thương hở cần khô để lành nhanh, khi đó HAIM và Keo Bạc được dùng không kèm kem; và da dầu buổi tối, vì dầu tự tiết ra sau khi rửa mặt vài chục phút đã làm lớp khóa ẩm (Phần 1, mục 3.2).
4.5 · Hiệp đồng tác dụng với retinoid để làm dày da
Retinaldehyde và hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa cùng cần CD44 để làm biểu bì dày lên, nên dùng chung thì mạnh hơn dùng riêng. Trên da cẳng tay người cao tuổi bị teo da, nhóm bôi retinaldehyde 0,05% cùng mảnh hyaluronic acid 1% dày da hơn nhóm chỉ bôi mảnh hyaluronic acid (nghiên cứu: mục 7.6).
Sau 30 ngày dùng phối hợp ở bệnh nhân teo da tuổi già, da dày lên trên siêu âm, và số tế bào mang dấu ấn lão hóa giảm (nghiên cứu: mục 7.6).
Các nghiên cứu này dùng retinaldehyde, một dạng retinoid đứng ngay trước retinoic acid. Serum Ret1 của Frigate đặt retinol cạnh hyaluronic acid 100 kDa theo cùng logic: một chất bật tín hiệu dựng lại biểu bì, một chất giữ cho tín hiệu ấy có chỗ bám. Chưa có thử nghiệm riêng cho cặp retinol và hyaluronic acid 100 kDa.
4.6 · Dùng chung với các hoạt chất khác
| Phối với | Cách phối |
|---|---|
| Retinoid (retinol, retinaldehyde, tretinoin) | rất hợp; retinaldehyde hiệp đồng tác dụng với hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa qua CD44 (mục 4.5), retinol và tretinoin dùng chung được |
| Niacinamide | dùng chung được, cùng một bước hoặc cùng một sản phẩm |
| Panthenol, allantoin | dùng chung được; cùng nhóm phục hồi hàng rào |
| Copper tripeptide-1 (GHK-Cu) | dùng chung được |
| Vitamin C | dùng chung được; vitamin C buổi sáng, hyaluronic acid sáng hoặc tối |
| AHA, BHA | dùng chung được; da đang bong hoặc rát thì giãn cách acid ra, giữ hyaluronic acid |
| Kem dưỡng hoặc dầu dưỡng khóa ẩm | luôn dùng phía trên HAIM trên da còn kín; không cần với vết thương hở cần khô và da dầu buổi tối (mục 4.4) |
| Máy siêu âm | không dùng serum hyaluronic acid làm gel dẫn (mục 4.3) |
Trong bộ Frigate, hyaluronic acid 100 kDa đứng riêng ở Serum HAIM cùng chiết xuất dưa leo và citric acid; nằm cạnh retinol và niacinamide ở Serum Ret1; và nằm trong dải 100 kDa đến 2 MDa của Serum Wet5, cùng panthenol, allantoin và copper tripeptide-1. Một routine dùng HAIM buổi sáng và Ret1 buổi tối, cả hai đều có kem dưỡng phía trên, là cách dùng trực tiếp tác dụng hiệp đồng giữa retinoid và hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa ở mục 4.5.
Bảng trên chỉ trả lời câu hỏi "dùng chung có được không". Câu hỏi "HAIM thiếu gì, và phải thêm chất nào để da tự chữa đủ các tiến trình" cần dữ liệu tiến trình tự chữa, và được trả lời ở Phần 4.
5 · Câu hỏi thường gặp
Khách đang bôi corticoid theo đơn có dùng hyaluronic acid 100 kDa được không? Dùng được, và đây là nhóm người dùng cần nó nhất, vì corticoid làm da ngừng tạo hyaluronic acid và làm sập nền tín hiệu mà hyaluronic acid 100 kDa bật lại. Hyaluronic acid 100 kDa không thay thế thuốc khi da đang viêm cấp.
Có dùng serum hyaluronic acid làm gel cho máy siêu âm được không? Không nên dùng, vì sóng siêu âm cắt chuỗi hyaluronic acid thành mảnh nhỏ, và mảnh nhỏ làm rã các cụm CD44 mà HA 100 kDa cần. Dùng gel dẫn riêng, bôi serum sau khi làm máy xong.
Hyaluronic acid phân tử càng nhỏ có càng tốt không? Không, mảnh nhỏ hơn không có nghĩa là tốt hơn. Mảnh nhỏ thấm sâu hơn, nhưng từ 10 kDa trở xuống chỉ gắn rồi nhả khỏi CD44, và dưới 50 kDa thì không làm tế bào sừng non tăng sinh. Cỡ khoảng 100 kDa vừa qua được lớp sừng vừa đủ dài để làm việc.
Hyaluronic acid có giữ nước gấp 1.000 lần trọng lượng không? Không. HA chỉ nhốt nước giữa các sợi như miếng bọt biển, và nước ấy vẫn bay hơi như nước thường; mỗi gam hyaluronic acid giữ chặt khoảng 0,36–0,86 gam nước, cùng hạng với glycerin. Hyaluronic acid 100 kDa trong HAIM giữ nước như vậy, và có thêm tín hiệu gửi tới tế bào sừng non (mục 1.2).
6 · Kiến thức bổ sung
6.1 · "Phân tử càng nhỏ càng thấm sâu, nên càng tốt"
Vế thứ nhất của câu này đúng, còn vế thứ hai thì không. Bài Hyaluronic acid · Bài 1 (Kiến thức chung) của Khóa học hoạt chất, mục 2 , đã cho thấy mảnh nhỏ thấm sâu hơn, nhưng mục 2.2 của bài này cho thấy từ 10 kDa trở xuống hyaluronic acid chỉ gắn rồi nhả khỏi CD44, và dưới 50 kDa thì không còn làm tế bào sừng non tăng sinh. Da cũng tự cắt hyaluronic acid của chính nó thành mảnh cỡ khoảng 20 kDa để dọn đi (nghiên cứu: mục 7.9).
Câu hỏi đúng khi đọc một sản phẩm vì thế không phải "phân tử có nhỏ không", mà là "phân tử có đúng cỡ cho việc sản phẩm hứa làm không".
6.2 · Nước ối tuần thứ 16
Hyaluronic acid cỡ khoảng 100 kDa có trong nước ối của bào thai 16 tuần tuổi, lúc thượng bì của bào thai bắt đầu xếp thành nhiều lớp; nhờ nó, da của bào thai được hình thành (Phần 1, mục 4.1). Nguồn tiếng Anh dẫn ý này là nghiên cứu lotion 50–110 kDa ở mục 3.1 (nghiên cứu: mục 7.9).
Phép đo gốc của Dahl cho thấy hyaluronic acid dịch ối tuần 16 có phân bố kích thước rộng, với hai giá trị trung bình nằm ở hai phía của mốc 100 kDa (nghiên cứu: mục 7.9).
Mốc 100 kDa nằm gọn giữa hai giá trị trung bình 60 kDa và 300 kDa ấy, và phần chứng minh hyaluronic acid cỡ này làm thượng bì dày lại nằm ở các thí nghiệm của mục 3.1, 2.2 và 2.3.
6.3 · Kích thước là ngôn ngữ của da
Có một điều gọn gàng ở hoạt chất này: da không đọc hyaluronic acid theo lượng, mà theo kích thước.
Da tự làm hyaluronic acid ở cỡ hàng nghìn kDa. Khi cần dọn, da cắt nó thành mảnh khoảng 20 kDa bằng HYAL2, rồi đưa mảnh vào tế bào để cắt vụn tiếp. Việc cắt ấy được giữ trong một phạm vi hẹp, vì mảnh hyaluronic acid mang ý nghĩa khác với chuỗi nguyên (nghiên cứu: mục 7.10).
Hyaluronic acid 100 kDa là một từ trong ngôn ngữ ấy. Nó đủ ngắn để đi qua lớp sừng như một mảnh, nhưng đủ dài để nắm nhiều CD44 như một chuỗi, và thông điệp nó mang tới tế bào sừng non là "cần dựng lại".
Khi cầm một lọ hyaluronic acid, câu hỏi đáng giá hơn "bao nhiêu phần trăm" là "cỡ bao nhiêu, và cỡ ấy có đúng với việc lọ này hứa làm không".
7 · Nghiên cứu khoa học nói gì
Mục này tập hợp nghiên cứu đứng sau các điểm trong bài, theo cùng thứ tự với thân bài. Mỗi tiểu mục dẫn nguyên văn nghiên cứu, kèm bản dịch và nguồn.
7.1 · Hyaluronic acid của chính da
"the molecular weight of HA in the skin is typically in the range of 4000–6000 kDA, with lower quantities of some smaller species present"
phân tử lượng của hyaluronic acid trong da thường nằm trong khoảng 4000–6000 kDa, kèm một lượng nhỏ hơn các dạng phân tử nhỏ.
Connor và cộng sự, Dermatology and Therapy, 2020, PMID 32361894
"In the epidermal compartment, HA is mainly distributed in the extracellular space, and synthesis is higher in proliferating basal and spinous layers"
Ở biểu bì, hyaluronic acid chủ yếu phân bố trong khoảng ngoại bào, và được tổng hợp nhiều hơn ở lớp đáy và lớp gai, hai lớp đang tăng sinh.
"The half-life of HA in the skin is about one day, suggesting rapid synthesis and degradation to ensure the turnover."
Thời gian bán hủy của hyaluronic acid trong da khoảng một ngày, cho thấy chất này được tổng hợp và phân hủy nhanh để giữ vòng thay mới.
7.2 · Hyaluronic acid giữ nước bao nhiêu
"No experimental evidence was found for any special ability of hyaluronic acid to bind water at the claimed level of a thousand times by weight."
Không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào cho khả năng đặc biệt của hyaluronic acid gắn nước ở mức nghìn lần trọng lượng như vẫn được tuyên bố.
Borchers và Pirrung, ChemRxiv, 2023, DOI 10.26434/chemrxiv-2023-r728q
Nghiên cứu này là bản tiền ấn phẩm, chưa qua bình duyệt. Nó tổng hợp các phép đo cũ: mỗi gam hyaluronic acid giữ chặt khoảng 0,36–0,86 gam nước, còn glycerin trong dung dịch loãng khoảng 1,23 gam. Nhóm tác giả cũng lần ra gốc của con số nghìn lần ở các phép đo kích thước phân tử của Ogston:
"He finds the total volume occupied by the solvated coil is 6000 mL/g, which agrees with the dimensions of the particle measured by light scattering, and notes the coil is permeable to solvent."
Ogston thấy tổng thể tích búi phân tử ngậm dung môi chiếm là 6.000 mL/g, khớp với kích thước đo bằng tán xạ ánh sáng, và ghi nhận búi này để dung môi đi xuyên qua.
Borchers và Pirrung, ChemRxiv, 2023, DOI 10.26434/chemrxiv-2023-r728q
Khi đun nóng dần dung dịch hyaluronic acid 0,1% cạnh nước cất và dung dịch glycerin 10%:
"The mass loss profiles of these two solutions are indistinguishable."
Đường mất khối lượng của dung dịch hyaluronic acid và của nước cất không phân biệt được với nhau; dung dịch glycerin thì mất nước khác hẳn nước cất.
Borchers và Pirrung, ChemRxiv, 2023, DOI 10.26434/chemrxiv-2023-r728q
"Thus, from the study of water mobility in polysaccharide solution, we find no evidence for exceptional binding of water by HA and the hydration appears to be similar to another polysaccharide, dextran."
Như vậy, từ nghiên cứu độ linh động của nước trong dung dịch polysaccharide, nhóm tác giả không thấy bằng chứng hyaluronic acid gắn nước một cách ngoại lệ, và mức ngậm nước của nó giống một polysaccharide khác là dextran.
Thử nghiệm ngẫu nhiên trên 76 phụ nữ 30–60 tuổi, kem hyaluronic acid 0,1% ở năm cỡ 50, 130, 300, 800 và 2.000 kDa bôi quanh mắt hai lần mỗi ngày trong 60 ngày, so với kem nền ở mắt bên kia:
"All HA-based creams utilized in this study demonstrated a significant improvement in skin hydration and overall elasticity values (R2) when compared to placebo."
Mọi kem hyaluronic acid trong nghiên cứu đều cải thiện có ý nghĩa độ ẩm da và độ đàn hồi tổng thể (R2) so với giả dược.
Pavicic và cộng sự, Journal of Drugs in Dermatology, 2011, PMID 22052267
"Experimental measurements of the number of water molecules bound per disaccharide repeating unit discussed above gave ca. 14 (±5) waters."
Các phép đo thực nghiệm số phân tử nước gắn trên mỗi đơn vị lặp lại disaccharide cho khoảng 14 (±5) phân tử nước.
Borchers và Pirrung, ChemRxiv, 2023, DOI 10.26434/chemrxiv-2023-r728q
7.3 · Hyaluronic acid 100 kDa đến được tầng nào
"present in the skin section, at around 100 lm (full epidermal depth) for Renovhyal and 50 lm of epidermal depth for Bashyal (Fig. 4d and e)."
Hyaluronic acid có mặt trong lát cắt da tới khoảng 100 µm (hết bề dày biểu bì) với loại 20–50 kDa, và tới khoảng 50 µm của biểu bì với loại 100–300 kDa.
Essendoubi và cộng sự, Skin Research and Technology, 2016, DOI 10.1111/srt.12228
"Bashyal HA is localized in the superficial layer of the epidermis under stratum corneum. The HA with high molecular weight Cristalhyal is found only in the stratum corneum."
Hyaluronic acid 100–300 kDa nằm ở lớp nông của biểu bì, ngay dưới lớp sừng; hyaluronic acid phân tử lớn chỉ có ở lớp sừng.
Essendoubi và cộng sự, Skin Research and Technology, 2016, DOI 10.1111/srt.12228
Bản PDF gốc in ký hiệu µm thành "lm" do lỗi phông; trích nguyên văn giữ đúng bản in.
7.4 · Vì sao phải đủ dài: thụ thể CD44 cần được nắm ở nhiều điểm cùng lúc
Trong biểu bì người, CD44 dày nhất ở lớp gai, và tập trung ở mặt màng tế bào quay ra khoảng gian bào giàu hyaluronic acid:
"Among keratinocyte strata, the highest labeling density occurred on spinous cells, suggesting upregulation of CD44 after detachment from the basement membrane."
Trong các lớp tế bào sừng non, mật độ đánh dấu cao nhất nằm ở tế bào lớp gai, gợi ý rằng CD44 được tăng lên sau khi tế bào rời khỏi màng đáy.
Tuhkanen và cộng sự, Journal of Histochemistry & Cytochemistry, 1998, PMID 9446831
"In contrast, CD44 was abundant on plasma membrane domains facing an open intercellular space, rich in hyaluronan."
Ngược lại, CD44 có nhiều ở những vùng màng tế bào quay ra khoảng gian bào mở, nơi giàu hyaluronic acid.
Tuhkanen và cộng sự, Journal of Histochemistry & Cytochemistry, 1998, PMID 9446831
Trên màng nhân tạo phủ dày CD44, lượng hyaluronic acid bám vào tăng theo chiều dài chuỗi:
"Using this system in combination with biophysical techniques, we show that the amount of HA binding to bilayers that are densely coated with CD44 increases as a function of HA size, with half-maximal saturation at ∼30 kDa."
Dùng hệ thống này cùng các kỹ thuật lý sinh, nhóm tác giả cho thấy lượng hyaluronic acid gắn vào lớp màng phủ dày CD44 tăng theo kích thước hyaluronic acid, đạt một nửa mức bão hòa ở khoảng 30 kDa.
Wolny và cộng sự, Journal of Biological Chemistry, 2010, PMID 20663884
"Specifically, HA with molecular weights up to and including 10 kDa bound reversibly, whereas binding of HA with a molecular weight of 30 kDa or more was essentially irreversible"
Cụ thể, hyaluronic acid từ 10 kDa trở xuống gắn rồi nhả ra được, còn hyaluronic acid từ 30 kDa trở lên gắn gần như không nhả.
Wolny và cộng sự, Journal of Biological Chemistry, 2010, PMID 20663884
Mảnh quá ngắn không chỉ nắm lỏng, mà còn làm rã các cụm CD44 mà chuỗi dài vừa gom lại, vì mỗi mảnh ngắn chỉ chiếm một thụ thể:
"These results suggest that oHA regulates CD44 clustering in an opposite manner as nHA by replacing the multivalent HA-CD44 interaction with a monovalent interaction, leading to the disruption of CD44 clustering."
Các kết quả này gợi ý rằng hyaluronic acid dạng oligo điều chỉnh việc kết cụm CD44 theo chiều ngược với hyaluronic acid tự nhiên, bằng cách thay kiểu gắn nhiều điểm giữa hyaluronic acid và CD44 bằng kiểu gắn một điểm, làm cụm CD44 rã ra.
Yang và cộng sự, Journal of Biological Chemistry, 2012, PMID 23118219
Thí nghiệm trực tiếp trên tế bào sừng non cho thấy chỉ một cửa sổ kích thước làm tế bào tăng sinh, và cửa sổ ấy cần CD44:
"Treatment of primary keratinocyte cultures with intermediate-size HAF (HAFi; 50,000–400,000 Da) but not with small-size HAF (HAFs; <50,000 Da) or large-size HAF (HAFl; >400,000 Da) induced wild-type (wt) but not CD44-deficient (CD44 −/− ) keratinocyte proliferation."
Mảnh hyaluronic acid cỡ trung gian (HAFi, 50.000–400.000 Da), chứ không phải mảnh nhỏ (dưới 50.000 Da) hay mảnh lớn (trên 400.000 Da), làm tế bào sừng non nuôi cấy tăng sinh, và chỉ ở tế bào bình thường, không ở tế bào thiếu CD44.
7.5 · Từ cái nắm đến tín hiệu tăng sinh
Các phân tử tham gia chuỗi này nằm gần nhau trên cùng một vùng màng của tế bào sừng non, được gọi là hyalurosome:
"CD44 is the main cell-surface receptor for HA and is present on a membrane platform called hyalurosome along with other molecules involved in the metabolism of HA and cell signaling such as heparin-binding epidermal growth factor (HB-EGF), HB-EGF receptor ErbB1 and hyaluronate synthase-3 (HAS3), located in keratinocyte filopodia"
CD44 là thụ thể chính của hyaluronic acid trên bề mặt tế bào, và nằm trên một nền màng gọi là hyalurosome cùng các phân tử khác tham gia chuyển hóa hyaluronic acid và truyền tín hiệu tế bào, như yếu tố tăng trưởng biểu bì gắn heparin (HB-EGF), thụ thể ErbB1 của HB-EGF và enzyme tổng hợp hyaluronat số 3 (HAS3), đặt ở các chân giả của tế bào sừng non.
Hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa còn làm tăng enzyme tạo hyaluronic acid trong da:
"Northern blot analysis showed an increase in HAS1, HAS2, HAS3, and Hyal2 transcripts in both wt and CD44 −/− skin, suggesting that HAFi can induce both HA-producing and -degrading enzymes in a CD44-independent manner."
Phân tích Northern blot cho thấy bản phiên mã của HAS1, HAS2, HAS3 và Hyal2 đều tăng ở da chuột bình thường lẫn chuột thiếu CD44, gợi ý rằng mảnh cỡ trung gian có thể làm tăng cả enzyme tạo lẫn enzyme phân hủy hyaluronic acid, theo một đường không cần CD44.
7.6 · Làm dày lại biểu bì mỏng và hiệp đồng tác dụng với retinoid
Trên da người được bôi thuốc mỡ dexamethasone, lượng hyaluronic acid giảm nhanh vì tế bào ngừng tạo (chủ yếu do giảm enzyme HAS2), chứ không phải vì bị phân hủy nhiều hơn:
"These data show that the levels of skin HA rapidly decrease after short-term GC treatment due to a reduction in HA synthesis, while HA degradation is not changed."
Các dữ liệu này cho thấy lượng hyaluronic acid trong da giảm nhanh sau một đợt ngắn dùng glucocorticoid, do tổng hợp hyaluronic acid giảm, trong khi việc phân hủy hyaluronic acid không đổi.
Gebhardt và cộng sự, Journal of Investigative Dermatology, 2010, PMID 19609316
Ở tế bào sừng non của người, clobetasol (một corticoid rất mạnh) làm sập đúng nền hyalurosome đã mô tả ở mục 2.3, và hyaluronic acid cỡ 50–400 kDa dựng lại được nó:
"Human keratinocytes exposed to CP showed an impaired HA secretion and diminished expression of CD44 and HAS3."
Tế bào sừng non của người tiếp xúc với clobetasol propionate giảm tiết hyaluronic acid, đồng thời giảm biểu hiện CD44 và HAS3.
Barnes và cộng sự, Journal of Investigative Dermatology, 2013, PMID 23223147
"We also show that HA fragments of intermediary size (HAFi) induced keratinocyte filopodia and protected them against CP."
Nghiên cứu cũng cho thấy mảnh hyaluronic acid cỡ trung gian làm tế bào sừng non mọc chân giả và bảo vệ chúng trước clobetasol propionate.
Barnes và cộng sự, Journal of Investigative Dermatology, 2013, PMID 23223147
Trên da người, bằng chứng đầu tiên đến từ cẳng tay của người cao tuổi bị teo da:
"Topical application of HAFi caused marked epidermal hyperplasia in wt but not in CD44 −/− mice, and significant skin thickening in patients with age- or corticosteroid-related skin atrophy."
Bôi mảnh hyaluronic acid cỡ trung gian gây tăng sản biểu bì rõ rệt ở chuột bình thường, không ở chuột thiếu CD44, và làm da dày lên có ý nghĩa ở người bị teo da do tuổi hoặc do corticoid.
Một nghiên cứu khác dùng chính loại lotion 50–110 kDa mà Fukaya đưa vào phác đồ cai corticoid, bôi vùng cổ trong hai tuần ở 10 người trên 60 tuổi, và soi sinh thiết:
"Conclusions: The proliferative and differentiative effects of the hyaluronan lotion upon keratinocytes were confirmed immunohistologically."
Kết luận: tác dụng làm tăng sinh và biệt hóa tế bào sừng non của lotion hyaluronic acid được xác nhận bằng hóa mô miễn dịch.
Da già đi cũng mất hyaluronic acid đúng ở tầng này:
"The loss of HA is most significant in the epidermis and results in low keratinocyte proliferation, thinner epidermis, and decreased skin hydration"
Sự mất hyaluronic acid rõ nhất ở biểu bì, và dẫn tới tế bào sừng non tăng sinh kém, biểu bì mỏng hơn và da kém ẩm hơn.
Trên da cẳng tay người cao tuổi bị teo da, nhóm bôi retinaldehyde 0,05% cùng mảnh hyaluronic acid 1% dày da hơn nhóm chỉ bôi mảnh hyaluronic acid:
"The results are presented as box-plots with median value (▴). p = 0.001 (young untreated versus atrophic aged untreated); p<0.01 (atrophic aged untreated versus atrophic aged treated with HAFi); p<0.001 (atrophic aged untreated versus atrophic aged treated with RAL and HAFi); p<0.05 (atrophic aged treated with HAFi versus atrophic aged treated with RAL and HAFi) (nonparametric Mann-Whitney U test)."
Kết quả trình bày dạng hộp với trung vị. p = 0,001 (người trẻ không điều trị so với người già teo da không điều trị); p < 0,01 (người già teo da không điều trị so với nhóm bôi mảnh hyaluronic acid); p < 0,001 (người già teo da không điều trị so với nhóm bôi retinaldehyde cùng mảnh hyaluronic acid); p < 0,05 (nhóm bôi mảnh hyaluronic acid so với nhóm bôi cả hai) (kiểm định Mann-Whitney U không tham số).
Sau 30 ngày dùng phối hợp ở bệnh nhân teo da tuổi già, da dày lên trên siêu âm, và số tế bào mang dấu ấn lão hóa giảm:
"Skin ultrasonography of these patients showed a significant increase in skin thickness (measured between the upper limit of the epidermis and the dermal–subcutaneous fat junction) after RAL and HAFi treatment"
Siêu âm da của các bệnh nhân này cho thấy độ dày da, đo từ mặt trên biểu bì tới chỗ nối trung bì với mỡ dưới da, tăng có ý nghĩa sau khi bôi retinaldehyde cùng mảnh hyaluronic acid.
"The p16 Ink4a positive cells were significantly reduced in the epidermis and dermis 1 month after RAL and HAFi application."
Số tế bào dương tính với p16Ink4a giảm có ý nghĩa ở biểu bì và trung bì sau một tháng bôi retinaldehyde cùng mảnh hyaluronic acid.
7.7 · Cách dùng riêng cho hyaluronic acid 100 kDa
Chính các mảnh hyaluronic acid trong nghiên cứu nền tảng của mục 2.2 được làm ra theo cách đó:
"Cultured keratinocytes from the dorsal skin of wt and CD44 −/− DBA/1 mice were incubated with HAF generated from high-molecular-weight HA by sonication, enzymatic digestion, and size exclusion gel filtration ( Figure 1 A)."
Tế bào sừng non nuôi cấy từ da lưng chuột bình thường và chuột thiếu CD44 được ủ với các mảnh hyaluronic acid tạo ra từ hyaluronic acid phân tử cao bằng siêu âm, cắt bằng enzyme và lọc gel theo kích thước.
Hyaluronic acid tinh khiết, sạch nội độc tố, ở mọi kích thước đã thử, không làm đại thực bào và tế bào tua tiết chất gây viêm; các phản ứng viêm từng được báo trước đây đến từ mẫu hyaluronic acid bị nhiễm nội độc tố:
"In conclusion, purified, endotoxin-free, exogenously added HA of various molecular mass, fragmented HA, in vitro complexed HA-HC, and HA’ses were unable to induce pro-inflammatory responses in in vitro derived and ex vivo murine macrophages and DCs, as measured by the production of TNF-α, IL-1β, IL-12, CCL3, and the expression of the co-stimulatory molecules, CD40 and CD86."
Tóm lại, hyaluronic acid tinh khiết, sạch nội độc tố, thêm từ ngoài vào, ở nhiều khối lượng phân tử, ở dạng mảnh, ở dạng phức hợp tạo trong ống nghiệm, và các enzyme cắt hyaluronic acid đều không gây được phản ứng tiền viêm ở đại thực bào và tế bào tua của chuột, đo bằng lượng TNF-α, IL-1β, IL-12, CCL3 và biểu hiện các phân tử đồng kích thích CD40, CD86.
Trên chuột được gắn gen để biểu hiện quá mức men cắt HYAL1, hyaluronic acid trong da bị cắt dần thành mảnh dưới 27 kDa, và da cũng không viêm:
"Thus, in contrast to prior measurements of the response to HA fragments in vitro, the degradation of HA in vivo did not initiate an apparent inflammatory response."
Như vậy, trái với các phép đo đáp ứng với mảnh hyaluronic acid trong ống nghiệm trước đây, việc hyaluronic acid bị phân hủy trong cơ thể sống không khởi phát một phản ứng viêm rõ rệt nào.
Muto và cộng sự, Journal of Clinical Investigation, 2014, PMID 24487587
7.8 · Vì sao HAIM làm da khô hơn
Trên da chuột già, hyaluronic acid nhỏ làm tế bào sừng non tăng sinh và da dày lên nhưng không phục hồi được hàng rào, còn hyaluronic acid lớn 700–1.000 kDa thì ngược lại:
"In contrast, large HA (HA L ) induces only minimal changes in keratinocyte proliferation and skin thickness, but restores keratinocyte differentiation and improves permeability barrier function in aged epidermis."
Ngược lại, hyaluronic acid lớn chỉ làm thay đổi tối thiểu sự tăng sinh tế bào sừng non và độ dày da, nhưng phục hồi biệt hóa tế bào sừng non và cải thiện chức năng hàng rào thấm ở thượng bì già.
Bourguignon và cộng sự, Journal of Dermatological Science, 2013, PMID 23790635
7.9 · Hai điều thường được nói về cỡ phân tử
Da cũng tự cắt hyaluronic acid của chính nó thành mảnh cỡ khoảng 20 kDa để dọn đi:
"Moreover, the 24 h degradation of HMW HA resulted in the production of intermediate-size fragments of around 20 kDa (the end products of HYAL2) rather than hexa- and tetrasaccharides (the end products of HYAL1)."
Thêm vào đó, sau 24 giờ phân hủy, hyaluronic acid phân tử cao tạo ra các mảnh cỡ trung gian khoảng 20 kDa (sản phẩm cuối của HYAL2), chứ không phải các mảnh sáu hay bốn đơn vị đường (sản phẩm cuối của HYAL1).
Nguồn tiếng Anh dẫn ý này là nghiên cứu lotion 50–110 kDa ở mục 3.1:
"Dahl [5] reported that HAs of around 100 kDa temporarily increases in the amniotic fluid of the 16th weeks of pregnancy."
Dahl đã báo cáo rằng hyaluronic acid cỡ khoảng 100 kDa tăng tạm thời trong dịch ối ở tuần thai thứ 16.
Phép đo gốc của Dahl cho thấy hyaluronic acid dịch ối tuần 16 có phân bố kích thước rộng, với hai giá trị trung bình nằm ở hai phía của mốc 100 kDa:
"Pooled samples from 16 weeks of gestation exhibited a broad molecular weight distribution (Mw = 3 X 10(5); Mn = 6 X 10(4))."
Các mẫu gộp từ tuần thai thứ 16 có phân bố phân tử lượng rộng (trung bình theo khối lượng khoảng 300 kDa; trung bình theo số phân tử khoảng 60 kDa).
Dahl và cộng sự, Biochemical Medicine and Metabolic Biology, 1986, PMID 3707753
7.10 · Kích thước là ngôn ngữ của da
Việc cắt ấy được giữ trong một phạm vi hẹp, vì mảnh hyaluronic acid mang ý nghĩa khác với chuỗi nguyên:
"Thus the biological properties of intact and degraded hyaluronan are different, and hyaluronan degradation appears to have been compartmentalized in order to avoid inappropriate exposure of cells and tissues to the "danger" signals given by hyaluronan fragments."
Như vậy, tính chất sinh học của hyaluronic acid nguyên vẹn và đã phân hủy là khác nhau, và việc phân hủy hyaluronic acid dường như được giới hạn trong từng khoang, để tế bào và mô không bị phơi nhiễm không đúng lúc với tín hiệu "nguy hiểm" mà các mảnh hyaluronic acid mang theo.
Jackson, Glycoforum, 2004
7.11 · Đọc bằng chứng theo bậc mô
Các nghiên cứu trong bài không đứng ngang nhau, và phần lớn bằng chứng cơ chế của hyaluronic acid 100 kDa đến từ tế bào và chuột.
Trên người, có ba thử nghiệm ngẫu nhiên đáng tin nhất. Thử nghiệm năm cỡ (Pavicic 2011) và thử nghiệm da khô người cao tuổi (Muhammad 2024) cho dữ liệu về độ ẩm và nếp nhăn; thử nghiệm sau laser (Wu 2025) cho dữ liệu về hàng rào và đỏ da, nhưng không làm mù và dùng hỗn hợp ba cỡ. Các nghiên cứu làm dày da trên người đều nhỏ và không ngẫu nhiên: 6 ca trong Kaya 2006, 6 ca mỗi nhóm trong Barnes 2010, 10 người không đối chứng trong Ito 2014. Thử nghiệm xạ trị (Pinnix 2012) là thử nghiệm ngẫu nhiên duy nhất cho kết quả âm tính.
Về độ thấm, có một nghiên cứu trên da người (Essendoubi 2016, các số đo độ sâu được Zanchetta 2025 trích lại); các nghiên cứu còn lại làm trên da lợn. Về cơ chế CD44, các thí nghiệm then chốt làm trên tế bào sừng non chuột, chuột thiếu CD44 và màng nhân tạo.
Một thí nghiệm trên tế bào sừng non của người cho kết quả khác dữ liệu trên chuột. Ở tế bào sừng non của người khỏe mạnh nuôi cấy, giảm CD44 không làm tế bào chậm tăng sinh. Khi tế bào bị chất ức chế tạo hyaluronic acid 4MU làm chậm tăng sinh, thêm hyaluronic acid cỡ 1,6–4000 kDa cũng không phục hồi được, và nhóm tác giả kết luận 4MU làm chậm tăng sinh theo một đường không phụ thuộc hyaluronic acid (nghiên cứu: mục 7.11).
Điểm khác giữa thí nghiệm này và các thí nghiệm của nhóm Geneva là trạng thái của tế bào. Mọi dữ liệu làm dày da trên người đều đến từ da đang teo, do tuổi hoặc do corticoid, tức da đang thiếu tín hiệu. Cùng nghiên cứu nền tảng của nhóm Geneva cũng ghi nhận điều này trên người (nghiên cứu: mục 7.11).
Một hướng đáng cân nhắc là hyaluronic acid 100 kDa bù lại tín hiệu cho da đang thiếu, chứ không đẩy da bình thường tăng sinh thêm.
Bằng chứng hiện có còn ba khoảng trống chưa được nghiên cứu nào lấp. Chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên nào dùng riêng hyaluronic acid khoảng 100 kDa trên da mỏng do corticoid ở người. Chưa có nghiên cứu nào theo dõi da sau khi ngừng dùng. Và thử nghiệm da khô người cao tuổi chưa công bố số kDa trong phần tóm tắt.
Quan hệ lợi ích cũng cần biết khi đọc. Hai tác giả chính của nhóm Geneva đứng tên một bằng sáng chế của Pierre Fabre về mảnh hyaluronic acid, và lotion trong nghiên cứu năm 2014 do Fukaya cung cấp.
Khi tế bào bị chất ức chế tạo hyaluronic acid 4MU làm chậm tăng sinh, thêm hyaluronic acid cỡ 1,6–4000 kDa cũng không phục hồi được, và nhóm tác giả kết luận 4MU làm chậm tăng sinh theo một đường không phụ thuộc hyaluronic acid:
"In addition, knockdown of CD44 expression in keratinocyte cultures using shRNA-bearing lentiviral particles did not influence cell proliferation ( Fig. 2 ), ruling out an important role of CD44 in the control of human keratinocyte proliferation."
Ngoài ra, giảm biểu hiện CD44 trong tế bào sừng non nuôi cấy bằng hạt virus mang shRNA không ảnh hưởng tới tăng sinh tế bào, loại trừ vai trò quan trọng của CD44 trong việc điều khiển tăng sinh tế bào sừng non của người.
Malaisse và cộng sự, Journal of Biological Chemistry, 2016, PMID 26627828
"This effect was not rescued by the addition of HA fragments of molecular masses ranging from 1.6 to 4000 kDa."
Sự giảm tăng sinh do 4MU gây ra không được cứu vãn khi thêm các mảnh hyaluronic acid có phân tử lượng từ 1,6 tới 4000 kDa.
Malaisse và cộng sự, Journal of Biological Chemistry, 2016, PMID 26627828
Cùng nghiên cứu nền tảng của nhóm Geneva cũng ghi nhận điều này trên người:
"Finally, topical application of HAFi for one month caused skin thickening and clinical improvement in six people with skin atrophy but had no effect on normal human skin."
Cuối cùng, bôi mảnh hyaluronic acid cỡ trung gian trong một tháng làm da dày lên và cải thiện lâm sàng ở sáu người bị teo da, nhưng không có tác dụng trên da người bình thường.
Thuật ngữ dùng trong bài
Nguồn
- Zanchetta C, Scandolera A, Reynaud R, et al. Hyaluronic Acid in Topical Applications: The Various Forms and Biological Effects of a Hero Molecule in the Cosmetics Industry. Biomolecules. 2025. PMID 41463312. DOI 10.3390/biom15121656.
- Cosmetic Ingredient Review. Safety Assessment of Hyaluronates as Used in Cosmetics. Final Report. 2023. https://www.cir-safety.org/sites/default/files/FR_Hyaluronates_062023.pdf
- Essendoubi M, Gobinet C, Reynaud R, Angiboust JF, Manfait M, Piot O. Human skin penetration of hyaluronic acid of different molecular weights as probed by Raman spectroscopy. Skin Research and Technology. 2016. PMID 25877232. DOI 10.1111/srt.12228.
- Tuhkanen AL, Tammi M, Pelttari A, Agren UM, Tammi R. Ultrastructural analysis of human epidermal CD44 reveals preferential distribution on plasma membrane domains facing the hyaluronan-rich matrix pouches. Journal of Histochemistry & Cytochemistry. 1998. PMID 9446831. DOI 10.1177/002215549804600213.
- Wolny PM, Banerji S, Gounou C, et al. Analysis of CD44-Hyaluronan Interactions in an Artificial Membrane System: Insights into the Distinct Binding Properties of High and Low Molecular Weight Hyaluronan. Journal of Biological Chemistry. 2010. PMID 20663884. DOI 10.1074/jbc.M110.137562.
- Yang C, Cao M, Liu H, et al. The High and Low Molecular Weight Forms of Hyaluronan Have Distinct Effects on CD44 Clustering. Journal of Biological Chemistry. 2012. PMID 23118219. DOI 10.1074/jbc.M112.349209.
- Kaya G, Tran C, Sorg O, et al. Hyaluronate Fragments Reverse Skin Atrophy by a CD44-Dependent Mechanism. PLoS Medicine. 2006. PMID 17177600. DOI 10.1371/journal.pmed.0030493.
- Kaya A, Saurat JH, Kaya G. Senotherapeutic Effect of Retinaldehyde and Hyaluronate Fragments in Dermatoporosis. Dermatopathology. 2023. PMID 37366799. DOI 10.3390/dermatopathology10020024.
- Gebhardt C, Averbeck M, Diedenhofen N, et al. Dermal Hyaluronan Is Rapidly Reduced by Topical Treatment with Glucocorticoids. Journal of Investigative Dermatology. 2010. PMID 19609316. DOI 10.1038/jid.2009.210.
- Barnes L, Ino F, Jaunin F, Saurat JH, Kaya G. Inhibition of Putative Hyalurosome Platform in Keratinocytes as a Mechanism for Corticosteroid-Induced Epidermal Atrophy. Journal of Investigative Dermatology. 2013. PMID 23223147. DOI 10.1038/jid.2012.439.
- Ito A. The Effects of a Hyaluronan Lotion with a Molecular Weight of around 50 - 110 kDa on the Aged Atrophic Skin. Journal of Cosmetics, Dermatological Sciences and Applications. 2014. DOI 10.4236/jcdsa.2014.43021.
- Barnes L, Tran C, Sorg O, et al. Synergistic Effect of Hyaluronate Fragments in Retinaldehyde-Induced Skin Hyperplasia Which Is a Cd44-Dependent Phenomenon. PLoS ONE. 2010. PMID 21179550. DOI 10.1371/journal.pone.0014372.
- Pavicic T, Gauglitz GG, Lersch P, et al. Efficacy of cream-based novel formulations of hyaluronic acid of different molecular weights in anti-wrinkle treatment. Journal of Drugs in Dermatology. 2011. PMID 22052267.
- Muhammad P, Novianto E, Setyorini M, et al. Effectiveness of topical hyaluronic acid of different molecular weights in xerosis cutis treatment in elderly: a double-blind, randomized controlled trial. Archives of Dermatological Research. 2024. PMID 38829483. DOI 10.1007/s00403-024-03003-2.
- Wu Z, Liang X, Yu Q, et al. Effect and Safety of Skincare Regimens Containing a Multi-Molecular Hyaluronic Acid Complex for Recovery After Ablative Fractional CO2 Laser: A Prospective, Randomized, Controlled Trial. Journal of Cosmetic Dermatology. 2025. PMID 40590113. DOI 10.1111/jocd.70322.
- De Francesco F, Riccio M, Jimi S. Contribution of Topical Agents such as Hyaluronic Acid and Silver Sulfadiazine to Wound Healing and Management of Bacterial Biofilm. Medicina. 2022. PMID 35744098. DOI 10.3390/medicina58060835.
- De Francesco F, Saparov A, Riccio M. Hyaluronic acid accelerates re-epithelialization and healing of acute cutaneous wounds. European Review for Medical and Pharmacological Sciences. 2023. PMID 37129334. DOI 10.26355/eurrev_202304_31320.
- Pinnix C, Perkins GH, Strom EA, et al. Topical hyaluronic acid vs. standard of care for the prevention of radiation dermatitis after adjuvant radiotherapy for breast cancer: single-blind randomized phase III clinical trial. International Journal of Radiation Oncology, Biology, Physics. 2012. PMID 22172912. DOI 10.1016/j.ijrobp.2011.09.021.
- Žádníková P, Šínová R, Pavlík V, et al. The Degradation of Hyaluronan in the Skin. Biomolecules. 2022. PMID 35204753. DOI 10.3390/biom12020251.
- Dahl LB, Dahl IM, Børresen AL. The molecular weight of sodium hyaluronate in amniotic fluid. Biochemical Medicine and Metabolic Biology. 1986. PMID 3707753. DOI 10.1016/0885-4505(86)90077-0.
- Malaisse J, Pendaries V, Hontoir F, et al. Hyaluronan Does Not Regulate Human Epidermal Keratinocyte Proliferation and Differentiation. Journal of Biological Chemistry. 2016. PMID 26627828. DOI 10.1074/jbc.M115.661348.
- Bourguignon LYW, Wong G, Xia W, et al. Selective Matrix (Hyaluronan) Interaction with CD44 and RhoGTPase Signaling Promotes Keratinocyte Functions and Overcomes Age-related Epidermal Dysfunction. Journal of Dermatological Science. 2013. PMID 23790635. DOI 10.1016/j.jdermsci.2013.05.003.
- Dong Y, Arif A, Olsson M, et al. Endotoxin free hyaluronan and hyaluronan fragments do not stimulate TNF-α, interleukin-12 or upregulate co-stimulatory molecules in dendritic cells or macrophages. Scientific Reports. 2016. PMID 27869206. DOI 10.1038/srep36928.
- Muto J, Morioka Y, Yamasaki K, et al. Hyaluronan digestion controls DC migration from the skin. Journal of Clinical Investigation. 2014. PMID 24487587. DOI 10.1172/JCI67947.
- Jackson DG. The Lymphatic Endothelial Hyaluronan Receptor LYVE-1. Glycoforum, Hyaluronan Today. 2004. https://www.glycoforum.gr.jp/article/08A2.html
- Connor K, et al. Hyaluronic acid. Dermatology and Therapy. 2020. PMID 32361894.
- Borchers S, Pirrung MC. The Fallacy of Hyaluronic Acid Binding a Thousand Times Its Weight In Water. ChemRxiv (bản tiền ấn phẩm). 2023. DOI 10.26434/chemrxiv-2023-r728q.
- Hunger J, Bernecker A, Bakker HJ, Bonn M, Richter RP. Hydration Dynamics of Hyaluronan and Dextran. Biophysical Journal. 2012. PMID 22828349.
Cần tư vấn cho làn da của bạn? Liên hệ với chúng tôi — các tư vấn đều miễn phí.
Liên hệ tư vấn