Lactic acid
Chất đặc trị là một trong 61 chất đã vào vòng bình chọn. Định nghĩa đầy đủ
- Số trong danh mục
- 30
- Vấn đề da được bình chọn
- mụn · lỗ chân lông to · nếp nhăn và lão hóa · da dầu
- Tên tra trên bảng thành phần
- Lactic Acid
- Dải nồng độ
- dải cao (8–12%) · cách xếp dải
- Có trong bộ Frigate hoặc thuốc, peel kê kèm
- peel Jessner (14%)
Bài 3 — Cơ chế tác dụng của chất đặc trị theo dải nồng độ
Panthenol (tiền chất vitamin B5) cũng hút ẩm mạnh và được dùng khoảng 5%. Ammonium lactate và sodium lactate là muối của lactic acid, một thành phần có sẵn trong yếu tố giữ ẩm tự nhiên.
Mỗi phân tử acid chỉ góp một phần độ acid, và tác dụng phụ thuộc vào lượng acid tự do ở pH của sản phẩm. Vì vậy AHA dùng hằng ngày nằm ở dải cao, khoảng 4–10% với glycolic acid và 8–12% với lactic acid. Mandelic acid và PHA có phân tử lớn hơn, thấm chậm hơn, nên kích ứng ít hơn ở cùng phần trăm. PHA còn hút ẩm, do có nhiều nhóm hydroxyl.
Về kích thước, phân tử mandelic acid nặng 152 Da, gần gấp đôi lactic acid (90 Da); PHA như lactobionic acid còn lớn hơn nữa và được dùng chính vì dễ dung nạp (Szewczyński và cộng sự, Frontiers in Cellular and Infection Microbiology, 2026, PMID 42798825).
Lactic acid làm thêm một việc mà glycolic acid không có:
"Lactic acid particularly the L-isomer stimulates ceramide synthesis leading to higher SC ceramide levels which result in superior lipid barrier and effective resistance against xerosis."
Lactic acid, nhất là dạng L, kích thích tổng hợp ceramide, làm tăng lượng ceramide trong lớp sừng, cho hàng rào lipid tốt hơn và chống khô da hiệu quả.
Sethi và cộng sự, Indian Journal of Dermatology, 2016, PMID 27293248
Nếp nhăn hình thành qua sáu khâu. Tia UV và ô nhiễm tạo gốc tự do và tổn thương DNA (kem chống nắng, vitamin C, trà xanh, enzyme sửa DNA). Gốc tự do bật tín hiệu AP-1 làm tăng men MMP cắt collagen (tretinoin, trà xanh), và tế bào lão hóa tiết chất gây viêm (niacinamide). Nền trung bì mỏng dần vì collagen tạo mới giảm (retinoid, vitamin C, peptide tín hiệu, Copper Tripeptide-1, yếu tố tăng trưởng, glycolic acid, lactic acid, niacinamide) và sợi elastin thoái hóa (tretinoin, vitamin C, glycolic acid, lactic acid). Song song, thượng bì khô mỏng (niacinamide, ceramide, hyaluronic acid) và cơ co lặp lại hằn thành nếp (Acetyl Hexapeptide-8). Hyaluronic acid và silicone kem lót chỉ làm đầy và làm mịn bề mặt tạm thời.
Da khô hình thành qua năm khâu. Tác nhân như tuổi, trời lạnh hanh, nước nóng và chất tẩy rửa mạnh lấy đi nước và lipid của lớp sừng. Lớp sừng thiếu yếu tố giữ ẩm tự nhiên (chất hút ẩm), thiếu lipid gian bào và có vỏ tế bào sừng non (ceramide, niacinamide, lactic acid, urea), nước thoát ra nhiều (chất khóa ẩm và chất làm mềm), rồi tế bào sừng bong không đều và đóng thành vảy. Ở khâu cuối, độ ngậm nước quyết định men cắt mối nối giữa các tế bào sừng có làm việc được không (Haftek, Cell and Tissue Research, 2015, PMID 25378284), nên glycerin cũng giúp bong vảy, bên cạnh urea liều cao, ammonium lactate và các AHA (Rawlings và cộng sự, Archives of Dermatological Research, 1995, PMID 7625857).
