Dược sĩ phụ trách chuyên môn 24/7 — 0915 099 451
Frigate

Viêm da tiết bã ở mặt bôi kem hết đỏ, ngừng lại đỏ rát hơn: vì sao?

Viêm da tiết bã ở mặt bôi kem hết đỏ, ngừng lại đỏ rát hơn trước là lúc cần xem kem có corticoid không. Đỏ rát lan khỏi vùng nhiều dầu là dấu hiệu da đã nghiện corticoid.

Dược sĩ Thu Huyền - Chủ thương hiệu mỹ phẩm Frigate

Viêm da tiết bã ở mặt bôi kem hết đỏ, ngừng vài hôm lại đỏ rát hơn trước là lúc cần xem trong kem đó có corticoid hay không. Viêm da tiết bã, còn gọi viêm da dầu, vốn là bệnh hay tái phát, nên nhiều người bôi kem hết đợt này sang đợt khác mà không biết da đã nghiện corticoid. Những việc cần làm nằm ngay phần đầu bài, còn phần sau dành cho người muốn hiểu cơ chế và xem các nghiên cứu.

Nên làm gì khi viêm da tiết bã ngừng kem lại đỏ rát hơn?

1. Đọc kỹ bảng thành phần của tuýp kem bạn đang bôi. Corticoid thường mang những tên như betamethasone, clobetasol, mometasone hay hydrocortisone. Tacrolimus và pimecrolimus không phải corticoid nhưng cùng nhóm thuốc ức chế miễn dịch, nên đổi sang chúng không giúp da thoát khỏi vòng lặp. Kem trộn không ghi rõ thành phần cũng nên được xem như có corticoid ẩn bên trong.

Betamethasone trên nhãn DiproSalic, hydrocortisone trên nhãn Neoderma, và tuýp ULTRACOMB bạn Hà Linh mua ở hiệu thuốc (hành trình công khai của bạn). Ảnh thuốc: Cnbrb, IloveDPPH, Wikimedia Commons, giấy phép CC BY-SA, đã cắt ghép.

Betamethasone trên nhãn DiproSalic, hydrocortisone trên nhãn Neoderma, và tuýp ULTRACOMB bạn Hà Linh mua ở hiệu thuốc (hành trình công khai của bạn). Ảnh thuốc: Cnbrb, IloveDPPH, Wikimedia Commons, giấy phép CC BY-SA, đã cắt ghép.

2. Nhìn xem vết đỏ nằm ở đâu và da cảm thấy thế nào. Viêm da tiết bã bám theo vùng nhiều dầu như trán, chân mày, cánh mũi và da đầu, thường kèm vảy nhờn. Khi vết đỏ lan sang má, quanh mắt, xuống cổ, và da rát như đang cháy dù không có nguồn nhiệt nào, da nhiều khả năng đã nghiện corticoid.

Vết đỏ ban đầu nằm ở vùng nhiều dầu; khi đã nghiện corticoid, ngừng kem thì đỏ rát lan sang cả những nơi ít dầu.

Vết đỏ ban đầu nằm ở vùng nhiều dầu; khi đã nghiện corticoid, ngừng kem thì đỏ rát lan sang cả những nơi ít dầu.

3. Kem có nhóm thuốc này, kể cả kem trộn không rõ thành phần, mà da có các dấu hiệu trên thì ngừng hẳn, và đừng bôi lại khi da bùng. Đợt đỏ rát sau khi ngừng kem là da đang hồi phục, không phải bệnh nặng thêm. Hãy chụp ảnh da mỗi ngày và so các đợt với nhau, vì theo thời gian các đợt sau nhẹ dần và ngắn dần.

4. Chăm da ngay từ bây giờ, không cần chờ có đúng tên bệnh. Mỗi ngày da cần được ngừa nấm và vi khuẩn, làm dịu cơn ngứa và giữ ẩm. Các hoạt chất dùng cho việc này là bạc keo (hạt bạc siêu nhỏ trong nước) để ngừa nấm, vi khuẩn và virus, hyaluronic acid (chất giữ nước vốn có sẵn trong da) để làm dịu và giảm ngứa, panthenol (tiền vitamin B5) cùng allantoin (chất làm dịu da) để làm dịu da, rồi một lớp kem dưỡng ẩm. Da dầu vẫn dưỡng ẩm được, còn khi da thấy quá dầu thì bỏ bước kem.

5. Da đã nghiện corticoid thì tiêm meso LR-PRP tại spa. Đây là cách điều trị chính của Frigate cho da nghiện corticoid: lấy một ít máu của chính bạn, tách lấy phần chứa nhiều tiểu cầu (giúp da lành) và bạch cầu (giúp chống nhiễm khuẩn), rồi tiêm nông vào da.

Vì sao đi đâu bác sĩ cũng kê corticoid hoặc tacrolimus cho viêm da tiết bã?

Trong phác đồ chính quy, viêm da tiết bã được trị bằng thuốc chống nấm men, và khi da đỏ nhiều thì thêm thuốc chống viêm bôi là corticoid, tacrolimus hoặc pimecrolimus. Bác sĩ chọn như vậy là đúng sách, vì nhóm thuốc này làm hết đỏ trong vài ngày và người bệnh thấy kết quả ngay. Điều sách chưa viết nằm ở phía sau lần hết đỏ đó.

Phác đồ chống viêm có trước, hay ngành giải quyết viêm có trước?

NămMốcÝ nghĩa với đơn thuốc
1952Hydrocortisone bôi được báo cáo trên bệnh daCorticoid thành thuốc chống viêm nền
2000–2001Tacrolimus, pimecrolimus được duyệt tại MỹCó thêm lựa chọn thay corticoid, vẫn thuộc nhóm ức chế miễn dịch
2001–2007Ngành giải quyết viêm định hìnhKết thúc viêm được hiểu là một chương trình chủ động của cơ thể

Thứ tự này giải thích vì sao đơn thuốc vẫn giữ nguyên. Khi các tài liệu y khoa chính quy chốt cách trị, ngành giải quyết viêm (resolution of inflammation) chưa phát triển, và người ta chưa biết nhiều về việc xử lý viêm thế nào để cơ thể tự gọi tiến trình chữa lành sau đó. Về sau, nhóm Serhan viết rằng giải quyết viêm là quá trình chủ động chứ không thụ động như từng tin (Serhan, 2007), và giải quyết một phản ứng viêm khác với ức chế nó (Levy, 2001). Với một bệnh hay tái phát như viêm da tiết bã, khoảng trống này lộ rất rõ: mỗi đợt được dập nhanh, nhưng đợt sau vẫn đến.

Cách điều trị thuận tự nhiên khác ở đâu?

Frigate áp kiến thức giải quyết viêm vào chính việc chăm làn da này, và phân định bằng một phép thử: rút can thiệp ra rồi so cơ thể với lúc trước khi có can thiệp. Da khỏe hơn là thuận tự nhiên, yếu hơn là nghịch tự nhiên. Hoạt chất vẫn là những chất dược mỹ phẩm được thế giới công nhận như bạc keo, hyaluronic acid và panthenol; điểm khác nằm ở tiến trình của da mà chúng tác động.

Câu hỏiCách dập viêmCách thuận tự nhiên
Đợt đỏ đến thì làm gìBôi thuốc chống viêm cho hết đỏNgừa nấm, làm dịu, giữ ẩm và để đợt tự kết thúc
Đo tiến bộ bằng gìHết đỏ ở lần bôi nàyKhoảng thời gian da tự ổn không cần bôi thuốc dài dần
Khi ngừng bôiĐỏ quay lại, có khi rát hơnDa giữ được, hoặc khỏe hơn trước

Cách làm này đi trước các hướng dẫn chính quy nên còn ít được nhắc tới. Frigate đã công khai 62 hành trình điều trị da nghiện thuốc ức chế miễn dịch ở mục Review, tính đến ngày 05/11/2026, và nghiện corticoid đã được 8 bác sĩ Nhật, có Fukaya và Sato, mô tả từ việc điều trị nhiều ca bệnh (Fukaya, 2014). Bài về viêm da cơ địa liệt kê đủ các bác sĩ ở Nhật, Mỹ và Úc đi cùng hướng này.

Vì sao phải làm như vậy?

Phần dưới đi sâu hơn vào cơ chế và dùng thuật ngữ y khoa. Tên tác giả và năm trong ngoặc ứng với một mục ở phần nghiên cứu cuối bài.

Viêm da tiết bã là bệnh gì, và vì sao hay quay lại?

Viêm da tiết bã và viêm da dầu là cùng một bệnh với hai tên gọi, tiếng Anh là seborrheic dermatitis. Đây là bệnh viêm da mạn tính ở vùng da nhiều tuyến bã trên mặt và da đầu, biểu hiện bằng đỏ da và vảy nhờn, có liên quan tới nấm men Malassezia (loại nấm men sống thường trú trên da). Bệnh có xu hướng tái phát sau khi đã điều trị (Naldi, 2010).

Vì bệnh hay quay lại, mỗi đợt đỏ da lại là một lý do để lấy tuýp kem cũ ra bôi. Nhiều người dùng theo cách đó trong nhiều năm, đúng với đơn ban đầu nhưng không có mốc dừng. Với người mang cơ địa nhạy cảm, khoảng 15% dân số, dùng corticoid để kiểm soát từng đợt chính là con đường hình thành nghiện, mà Frigate gọi chung là viêm da do nghiện UCMD, với UCMD là viết tắt của ức chế miễn dịch.

Mỗi lần tái phát lại thêm một lần bôi kem, và ở người cơ địa nhạy cảm, những lần bôi ấy là con đường hình thành nghiện.

Mỗi lần tái phát lại thêm một lần bôi kem, và ở người cơ địa nhạy cảm, những lần bôi ấy là con đường hình thành nghiện.

Vì sao kem hết đỏ nhanh mà vẫn chưa đủ yên tâm?

Corticoid bôi dập đỏ rất hiệu quả, và tổng quan của Cochrane (tổ chức chuyên tổng hợp bằng chứng y khoa) ghi nhận corticoid giúp sạch hoàn toàn tổn thương nhiều hơn giả dược, nhưng phần lớn các thử nghiệm ngắn, kéo dài từ bốn tuần trở xuống (Kastarinen, 2014). Câu hỏi của người đang đọc bài này lại nằm sau mốc đó: sau nhiều tháng dùng đi dùng lại, ngừng kem thì chuyện gì xảy ra.

Phần lớn bằng chứng kem làm hết đỏ nằm trong bốn tuần đầu, còn câu hỏi ngừng kem sau nhiều tháng thì nằm ngoài khung đó.

Phần lớn bằng chứng kem làm hết đỏ nằm trong bốn tuần đầu, còn câu hỏi ngừng kem sau nhiều tháng thì nằm ngoài khung đó.

Vì vậy, việc đầu tiên là kiểm tra thành phần. Hydrocortisone thường bị xem là vô hại vì thuộc loại nhẹ, nhưng độ mạnh của corticoid chỉ quyết định bệnh tiến triển nhanh hay chậm, không quyết định có nghiện hay không. Tacrolimus và pimecrolimus thuộc nhóm ức chế calcineurin (enzyme điều tiết miễn dịch), khác cơ chế với corticoid nhưng vẫn ức chế miễn dịch, nên đổi sang chúng là tiếp tục nghiện dưới một dạng mới.

Vì sao vị trí vết đỏ và cảm giác rát giúp phân biệt?

Viêm da tiết bã đi theo mật độ tuyến bã, nên tổn thương nằm gọn ở vùng nhiều dầu. Vết đỏ của nghiện corticoid thì không chịu ở yên trong vùng đó, và còn kéo theo những thay đổi của làn da đã dùng thuốc lâu như da mỏng đi, mạch máu li ti nổi rõ. Bảng dưới so sánh những gì người bệnh tự nhìn được:

Điều cần nhìnViêm da tiết bãNghiện corticoid
Vị tríVùng nhiều dầu: trán, chân mày, cánh mũi, da đầuLan sang má, quanh mắt, cổ, cả nơi chưa từng bôi kem
Bề mặt daDa đỏ và có vảy nhờn bám trên bề mặtĐỏ, da mỏng đi, mạch máu li ti nổi rõ, bong khô
Cảm giácNgười bệnh có thể ngứa ở vùng tổn thươngRát, châm chích như đang cháy, dù không có nguồn nhiệt
Sau khi ngừng kemVảy và vết đỏ quay lại như lúc trước khi bôiĐỏ rát hơn cả lúc trước khi bôi

Cảm giác trên da là manh mối người bệnh tự nhận ra được ngay. Rát và châm chích là triệu chứng được báo cáo nhiều nhất ở hội chứng cai corticoid bôi, gặp ở 65,5% số ca, còn đỏ da là dấu hiệu thường gặp nhất, ở 92,3% số ca (Hajar, 2015). Các tác giả khác cũng khuyên nghĩ tới hội chứng này ở người có tiền sử dùng kéo dài, đỏ da, kèm rát hoặc ngứa (Hwang, 2022).

Rát và đỏ là hai điều người bệnh tự kiểm được mỗi ngày mà không cần đến phòng khám.

Rát và đỏ là hai điều người bệnh tự kiểm được mỗi ngày mà không cần đến phòng khám.

Hai má đỏ của một khách đang cai corticoid Ba tháng đầu, da của khách này đỏ rồi lặn, lại đỏ rồi lại lặn, trước khi chuyển sang đỏ nhẹ rồi rất nhẹ (hành trình công khai).

Một làn da, hai tên bệnh: vì sao không chờ đúng tên mới xử lý?

Một trường hợp đã công khai ở mục Review cho thấy tên bệnh có thể đổi theo từng lần khám. Chị Liên có da dầu, từng dùng kem trộn một năm, và sau đợt laser năm 2021 da bùng mụn ngứa kín mặt trong một tuần. Lần khám đầu kết luận viêm da tiết bã nhờn, thuốc bôi làm da nặng hơn. Lần khám sau, một bác sĩ khác kết luận trứng cá đỏ. Chị tự tìm hiểu, thấy biểu hiện giống nhiễm Demodex (một loại ve sống ở nang lông), chăm da theo hướng đó, và tới tháng thứ 6 da đã ổn định. Lời kể của chị theo từng tháng được lưu ở mục Review của Frigate.

Da chị Liên lúc ban đầu và ở tháng thứ 6: tên gọi đổi theo từng lần khám, còn diễn tiến qua các tháng mới cho biết làn da cần gì.

Da chị Liên lúc ban đầu và ở tháng thứ 6: tên gọi đổi theo từng lần khám, còn diễn tiến qua các tháng mới cho biết làn da cần gì.

Hội chứng cai corticoid bôi hiện chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán xác định, nên hay bị chẩn đoán nhầm thành một đợt bùng của bệnh nền hoặc dị ứng tiếp xúc (Maskey, 2025). Trên cùng một khuôn mặt, vảy nhờn ở vùng nhiều dầu có thể liên quan tới nấm men, vết đỏ rát lan ra má có thể do đã nghiện corticoid, và khi hàng rào da yếu dần qua từng đợt thì vi khuẩn, nấm hay tác nhân dị ứng mới còn có thể phát sinh thêm. Vì nguyên nhân không đứng yên, Frigate xử lý mọi hướng có thể xảy ra ngay từ đầu thay vì chờ có đúng tên bệnh. Câu hỏi quyết định hướng đi là kem đã dùng có thành phần gì, dùng trong bao lâu và vết đỏ thay đổi ra sao qua các đợt.

Vì sao bạc keo có thêm lý do với bệnh này, và vì sao da dầu vẫn cần dưỡng ẩm?

Bạc keo là lớp kiểm soát vi sinh trong phác đồ chung, thoa mỗi ngày để ngăn vi khuẩn, nấm và virus xâm nhập vào làn da đang yếu hàng rào, và được rút ra khi da đã khỏi. Với viêm da tiết bã, bạc còn tác động lên chính loại nấm men liên quan tới bệnh: một thử nghiệm trong phòng thí nghiệm dùng hạt nano bạc trên Malassezia furfur (một loài nấm men Malassezia) không thấy nấm sinh ra dung nạp (Mussin, 2019). Đây là kết quả trên hạt nano bạc trong ống nghiệm, chưa phải thử nghiệm trên da người.

Panthenol (tiền vitamin B5), allantoin và peptide đồng GHK-Cu làm dịu và làm dày dần lớp da đã mỏng đi sau thời gian bôi kem có corticoid. Nhiều người da dầu ngại kem dưỡng, nhưng kem dưỡng ẩm trong phác đồ của Frigate được thiết kế cho cả da dầu và da mụn. Khi da cảm thấy quá dầu thì có thể bỏ bước kem, vì dầu da tiết ra sau khi rửa mặt vài chục phút đã làm thay việc của kem. Với nhóm da nhiều dầu, serum hyaluronic acid 100 kDa còn có một quan sát từ thực hành của Frigate: trên da dầu, thoa buổi tối mà không phủ kem khóa ẩm thì sáng hôm sau da tiết rất ít dầu, và hiệu quả thấy ngay từ đêm đầu tiên. Serum này dùng ít nhất 2 lần mỗi ngày và thoa thêm khi ngứa. Một thử nghiệm mở nhỏ trên 13 người, không có nhóm đối chứng, cũng ghi nhận gel hyaluronic acid phân tử thấp cải thiện viêm da tiết bã ở mặt (Schlesinger, 2014).

Trên da dầu, lớp dầu tự tiết ra sau khi rửa mặt có lúc đã đủ thay kem; việc sáng hôm sau ít dầu là quan sát thực hành của Frigate với serum hyaluronic acid.

Trên da dầu, lớp dầu tự tiết ra sau khi rửa mặt có lúc đã đủ thay kem; việc sáng hôm sau ít dầu là quan sát thực hành của Frigate với serum hyaluronic acid.

Vì sao da đã nghiện corticoid thì cần meso LR-PRP?

Ở người đã dùng corticoid, khi vảy nhờn ở vùng nhiều dầu đi kèm vết đỏ rát lan ra ngoài vùng ấy, làn da đang mang thêm phần nghiện corticoid, và phần này có gốc ở hệ miễn dịch chứ không nằm trên bề mặt da. Sản phẩm bôi chỉ che chắn và làm dịu, nên Frigate dùng meso LR-PRP (leukocyte-rich PRP, huyết tương giàu tiểu cầu và giàu bạch cầu) để xử lý phần nghiện, còn bộ chăm da ở nhà tiếp tục lo vùng da dầu và hàng rào đang yếu.

Phần nghiện được xử lý bằng tế bào lấy từ máu của chính người bệnh, đưa thẳng vào trung bì, không qua lớp kem trên mặt da.

Phần nghiện được xử lý bằng tế bào lấy từ máu của chính người bệnh, đưa thẳng vào trung bì, không qua lớp kem trên mặt da.

Bài về viêm da cơ địa giải thích kỹ vì sao LR-PRP là cách điều trị chính và vẽ cung đường của các đợt bùng, bài về meso LR-PRP trình bày từng bước của buổi tiêm, còn cách đọc da theo tiến trình liệt kê những gì nên ghi lại mỗi ngày.

Nghiên cứu y khoa đằng sau bài viết

Mỗi mục dưới đây ghi rõ nghiên cứu là gì và nó làm chỗ dựa cho điều nào trong bài, kèm câu trích nguyên văn và bản dịch.

Naldi, 2010: viêm da tiết bã hay tái phát

Bài tổng hợp bằng chứng lâm sàng trên BMJ Clinical Evidence là nguồn cho việc bệnh hay quay lại sau điều trị, lý do khiến người bệnh dùng kem nhiều đợt.

Seborrhoeic dermatitis tends to relapse after treatment.

Viêm da tiết bã có xu hướng tái phát sau điều trị.

(Naldi, BMJ Clinical Evidence, 2010, PMID 21418692)

Kastarinen và cộng sự, 2014: corticoid hiệu quả, nhưng phần lớn nghiên cứu chỉ đo ngắn hạn

Tổng quan Cochrane về thuốc chống viêm bôi cho viêm da tiết bã ở mặt là nguồn cho việc kem hết đỏ nhanh, đồng thời cho thấy phần lớn các thử nghiệm dừng quan sát ở khoảng bốn tuần.

Steroid treatment resulted in total clearance more often than placebo in short-term trials (four weeks or less)

Corticoid giúp sạch hoàn toàn tổn thương thường xuyên hơn giả dược trong các thử nghiệm ngắn hạn (từ bốn tuần trở xuống).

(Kastarinen và cộng sự, Cochrane Database of Systematic Reviews, 2014, PMID 24838779)

Most of the included studies were small and short, lasting four weeks or less.

Phần lớn các nghiên cứu được đưa vào có quy mô nhỏ và ngắn, kéo dài từ bốn tuần trở xuống.

(Kastarinen và cộng sự, Cochrane Database of Systematic Reviews, 2014, PMID 24838779)

Hajar và cộng sự, 2015: rát và đỏ là hai biểu hiện hay gặp nhất

Tổng quan hệ thống trên tạp chí của Viện Hàn lâm Da liễu Hoa Kỳ là nguồn cho dòng "cảm giác" trong bảng phân biệt.

Burning and stinging were the most frequently reported symptoms (65.5%) with erythema being the most common sign (92.3%).

Rát và châm chích là những triệu chứng được báo cáo nhiều nhất (65,5%), còn đỏ da là dấu hiệu thường gặp nhất (92,3%).

(Hajar và cộng sự, Journal of the American Academy of Dermatology, 2015, PMID 25592622)

Hwang và Lio, 2022: khi nào nên nghĩ tới hội chứng cai corticoid

Bài tổng quan trên Journal of Dermatological Treatment nêu ba manh mối để nghi ngờ hội chứng: dùng kéo dài, đỏ da, rát hoặc ngứa.

Topical corticosteroid withdrawal should be suspected in patients presenting with prolonged usage, erythema, and burning or itch.

Nên nghĩ tới hội chứng cai corticoid bôi ở người bệnh có tiền sử dùng kéo dài, đỏ da, kèm rát hoặc ngứa.

(Hwang và Lio, Journal of Dermatological Treatment, 2022, PMID 33499686)

Maskey và cộng sự, 2025: hội chứng hay bị chẩn đoán nhầm

Bài tổng quan trên Frontiers in Allergy là nguồn cho việc một làn da có thể mang nhiều tên bệnh qua các lần khám.

There exist no definitive diagnostic criteria for this entity, and it is often misdiagnosed as a flare-up of an underlying condition or a contact allergy.

Hiện chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán xác định cho bệnh này, và nó thường bị chẩn đoán nhầm thành một đợt bùng của bệnh nền hoặc dị ứng tiếp xúc.

(Maskey và cộng sự, Frontiers in Allergy, 2025, PMID 40230788)

Mussin và cộng sự, 2019: hạt nano bạc trên nấm men Malassezia

Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm trên AMB Express dùng hạt nano bạc với Malassezia furfur (một loài nấm men Malassezia), là nguồn cho lý do riêng của bước bạc keo với viêm da tiết bã.

Furthermore, no tolerance effect was evident.

Hơn nữa, không thấy hiện tượng dung nạp thuốc.

(Mussin và cộng sự, AMB Express, 2019, PMID 31432275)

Schlesinger và Powell, 2014: hyaluronic acid phân tử thấp trên viêm da tiết bã ở mặt

Thử nghiệm mở trên 13 người, không làm mù, không có nhóm đối chứng và không ghi cỡ phân tử; đây là nguồn cho việc hyaluronic acid đã được thử trực tiếp trên bệnh này.

Conclusion: Treatment with topical low molecular weight hyaluronic acid resulted in improvement in the measured endpoints.

Kết luận: điều trị bằng hyaluronic acid phân tử thấp bôi tại chỗ đã cải thiện các chỉ số được đo.

(Schlesinger và Powell, Journal of Clinical and Aesthetic Dermatology, 2014, PMID 24847403)

Levy và cộng sự, 2001; Serhan và cộng sự, 2007: giải quyết viêm khác với ức chế viêm

Hai bài của nhóm đặt nền cho ngành giải quyết viêm là nguồn cho mốc 2001–2007 trong bảng.

The resolution of an inflammatory response is fundamental to health and differs from inhibiting inflammation.

Giải quyết một phản ứng viêm là nền tảng của sức khỏe, và khác với việc ức chế viêm.

(Levy và cộng sự, Nature Immunology, 2001, PMID 11429545)

Hence, resolution is an active rather than a passive process, as once believed, which now promises novel approaches for the treatment of inflammation-associated diseases based on endogenous agonists of resolution.

Vì vậy, giải quyết viêm là một quá trình chủ động chứ không thụ động như từng tin, và điều này mở ra những cách điều trị mới cho các bệnh liên quan tới viêm, dựa trên chính những chất thúc đẩy giải quyết viêm mà cơ thể tự tạo ra.

(Serhan và cộng sự, The FASEB Journal, 2007, PMID 17267386)

Siegfried và cộng sự, 2013: mốc tacrolimus và pimecrolimus

Tổng quan trên American Journal of Clinical Dermatology là nguồn cho mốc 2000–2001 trong bảng. Hydrocortisone bôi được Sulzberger và Witten báo cáo năm 1952 (Journal of Investigative Dermatology, DOI 10.1038/jid.1952.72).

Topical calcineurin inhibitors (TCIs), commercially available since 2000–2001, are the first and only topical medications approved for chronic treatment of atopic dermatitis (AD) in pediatric patients and remain a welcomed alternative to topical corticosteroids.

Thuốc ức chế calcineurin bôi, có mặt trên thị trường từ năm 2000–2001, là những thuốc bôi đầu tiên và duy nhất được duyệt để điều trị lâu dài viêm da cơ địa ở trẻ em, và vẫn là lựa chọn được chào đón để thay corticoid bôi.

(Siegfried và cộng sự, American Journal of Clinical Dermatology, 2013, PMID 23703374)

Fukaya và cộng sự, 2014: nghiện corticoid mô tả từ nhiều ca bệnh

Bài tổng quan của 8 bác sĩ Nhật, trong đó có Fukaya và Sato, là nguồn cho kinh nghiệm điều trị cùng hướng ở nước ngoài.

Here, we describe the clinical features of topical steroid addiction or red burning skin syndrome, based on the treatment of many cases of the illness.

Ở đây, chúng tôi mô tả đặc điểm lâm sàng của nghiện corticoid bôi, hay hội chứng da đỏ bỏng rát, dựa trên việc điều trị nhiều ca bệnh.

(Fukaya và cộng sự, Drug, Healthcare and Patient Safety, 2014, PMID 25378953)

Cần tư vấn cho làn da của bạn? Liên hệ với chúng tôi — các tư vấn đều miễn phí.

Liên hệ tư vấn