Tiến trình viêm
Một cơn viêm khỏe mạnh đi qua sáu bước: tín hiệu báo động, pha đầu kéo bạch cầu đến, đỉnh viêm với công tắc chuyển lớp chất trung gian, dọn xác bạch cầu, rút lui về nền, và trí nhớ của mô. Viêm không tự tắt dần; nó được kết thúc bằng một chương trình chủ động. Viêm mạn là viêm bị kẹt ở một bước, không phải viêm nhiều.
ChấtDelphi bình chọn cho vấn đề da này; chữ đậm là chất đạt đồng thuận cho vấn đề da này.
ChấtĐặt theo cơ chế, Delphi không bình chọn cho vấn đề da này.
TNNguồn nói thẳng tiến trình này hóa giải mắt xích.
TNTiến trình có thật, nối vào mắt xích theo cơ chế.
Da không tự chữa được: chỗ của chất đặc trị hoặc kỹ thuật.
Bước 1
Tín hiệu báo động
Vi khuẩn, tia UV, tổn thương hoặc dị nguyên làm tế bào tại chỗ phát tín hiệu và tạo chất trung gian gây viêm như prostaglandin.
1aTác nhân còn ở lại
Không có chất đặc trị cho bước này; việc đầu tiên là bớt tác nhân.
Vi khuẩn thường trú, peptide kháng khuẩn và bề mặt hơi acid giữ hệ vi sinh ổn định (TN1).
Bước 2
Pha đầu kéo bạch cầu đến
Bạch cầu trung tính kéo đến ổ viêm. Trên da người, nhóm có đáp ứng sớm và mạnh giải quyết ngay; nhóm có đáp ứng dịu, tăng dần thì không giải quyết được trong 72 giờ.
2aPha đầu dịu, tăng dần (tempered)
Kích viêm có chủ đích (khung Frigate) tạo một pha đầu rõ để chương trình kết thúc tự chạy; chưa có số đo pha đầu – pha cuối riêng cho Spicule.
Giải quyết viêm thỏa đáng đi sau một pha đầu rầm rộ (Sugimoto 2016; TN8.4).
2bPha đầu bị dập sớm
Ức chế COX làm viêm dịu ở giờ thứ 2 nhưng nặng thêm rõ rệt ở giờ 48 (Gilroy 1999, viêm màng phổi trên chuột cống): thuốc dập pha đầu cũng cắt tín hiệu mà pha kết thúc cần.
Chương trình kết thúc cần chính tín hiệu của pha đầu.
Bước 3
Đỉnh viêm và công tắc chuyển lớp
Prostaglandin E2 của pha đầu chuyển bạch cầu từ tạo leukotriene sang tạo lipoxin, chất của pha kết thúc. Đường tạo chất tiêu viêm thường cần chất trung gian sinh ra từ lúc khởi phát: pha đầu lập trình pha cuối (số đo công tắc trên bạch cầu người, ngoài cơ thể).
3aKhông đủ tín hiệu để chuyển lớp
Không có chất đặc trị; công tắc cần pha đầu đủ mạnh (bước 2).
Công tắc chuyển lớp của pha đầu (TN8.4) và chất trung gian tiêu viêm (TN8.1).
Bước 4
Dọn xác bạch cầu
Bạch cầu trung tính chết theo chương trình; đại thực bào nuốt xác và nhờ đó chuyển sang kiểu tiêu viêm. Men 11β-HSD1 của tế bào được chiêu mộ tới chuyển tiền chất bất hoạt thành glucocorticoid hoạt tính, giúp nuốt xác bạch cầu sớm (số đo trên chuột).
4aDọn xác chậm (tuổi cao)
Chưa có chất bôi đo được trên mắt xích này; ở người cao tuổi, chặn p38 MAPK khôi phục việc dọn xác và giải quyết viêm trên da (De Maeyer 2020).
Dọn xác chuyển đại thực bào sang kiểu tiêu viêm (TN8.2); glucocorticoid nội sinh tại chỗ giúp dọn sớm (TN8.3).
4bXác tế bào tích lại ở chỗ viêm
Ở lupus da, xác tế bào tích lại trùng chỗ thâm nhiễm viêm trong 10 trên 16 mẫu sinh thiết có xác tế bào (Reefman 2006).
Bước 5
Rút lui về nền
Bạch cầu được dọn khỏi ổ viêm và mạch máu thu về mức cũ: trên da người, mạch xung huyết giữ bình nguyên từ giờ 4 đến giờ 24 rồi về nền ở giờ 48 (vi khuẩn bất hoạt tiêm vào da người). Tế bào T điều hòa giúp vết thương khép trong pha viêm (trên chuột).
5aKhông về được nền
Không có chất đặc trị riêng; phần hàng rào và mạch máu tự sửa xem TN2 và TN13 ở Bài 4.
Tế bào T điều hòa giúp khép vết thương trong pha viêm (TN9, trên chuột).
Bước 6
Sau cơn viêm
Mô đã giải quyết viêm không trở về y như cũ: vài ngày sau, chỗ đó có thêm tế bào T nhớ, đại thực bào CD163+ và chất tiêu viêm, nên cơn sau khác cơn trước. Viêm không giải quyết trọn thành viêm mạn, như ở vảy nến và viêm da cơ địa.
6aTrí nhớ của mô
Năng lực giải quyết chỉ đọc được qua nhiều cơn: cơn sau nhẹ hơn, thưa hơn, ngắn hơn là năng lực tăng.
Mô có trí nhớ sau giải quyết (TN8.5).
6bViêm kẹt thành mạn
Xem trang Viêm da cơ địa và nhóm Viêm da do nghiện UCMD.
Viêm mạn là chương trình kết thúc suy yếu.
Đây là trang tiến trình nền mà mọi vấn đề da gọi tới qua TN8. Da có sẵn một chương trình kết thúc viêm, và chương trình đó chạy được khi pha đầu đủ rõ: pha đầu dịu hoặc bị dập thì công tắc chuyển lớp không bật, xác bạch cầu không được dọn đúng lúc, và viêm kẹt lại thành mạn. Mỗi cơn giải quyết xong để lại trí nhớ cho mô, nên năng lực tự chữa đọc qua nhiều cơn, không đọc trong một cơn.
Nguồn của chuỗi hình thành
- Morris và cộng sự, Proceedings of the National Academy of Sciences, 2010, PMID 20421472
- Gilroy và cộng sự, Nature Medicine, 1999, PMID 10371510
- Levy và cộng sự, Nature Immunology, 2001, PMID 11429545
- Buckley, Gilroy và Serhan, Immunity, 2014, PMID 24656045
- Serhan và Savill, Nature Immunology, 2005, PMID 16369558
- De Maeyer và cộng sự, Nature Immunology, 2020, PMID 32251403
- Gilmour và cộng sự, Journal of Immunology, 2006, PMID 16751407
- Reefman và cộng sự, Arthritis Research & Therapy, 2006
- Motwani và cộng sự, JCI Insight, 2018, PMID 29563331
- Nosbaum và cộng sự, Journal of Immunology, 2016, PMID 26826250
- Motwani và cộng sự, PLoS One, 2017, PMID 29073216
- Sorokin và cộng sự, Journal of Investigative Dermatology, 2018, PMID 29454560
- Livshits và Kalinkovich, Cells, 2024, PMID 39594647
Nguồn của từng tiến trình tự chữa: Vấn đề da theo tiến trình.
